CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Động lực lao động. Khái niệm về động lực lao động. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về động lực lao động, cụ thể: Theo nghiên cứu của Rajeswari, từ năm 1999-2000 đã tổng hợp các bài báo được xuất bản bằng tiếng Anh có 40 nghiên cứu liên quan tạo động lực, đặc điểm lao động.
Theo Chandra và cộng sự đã nghiên cứu các nghiên cứu trong vòng hai thập niên từ năm 1999 đến năm 2013 đã có 6.858 xuất bản và vẫn còn tiếp tục nghiên cứu về động lực làm việc trong từng lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Những khái niệm động lực lao động được các tác giả dẫn chứng ở nhiều nghiên cứu với những quan điểm và nhận thức khác nhau. Theo đó: Một số tác giả xem xét động lực lao động là những yếu tố có tác động thúc đẩy quá trình vận động và phát triển nhằm biến đổi hành vi của người lao động để đạt được mục tiêu đề ra như Bambale và Shukura, Mitchell và cộng sự, Murphy và Alexander. Theo góc độ tâm lý học, một số tác giả cho rằng động lực lao động là những yếu tố làm biến đổi tâm lý nội tại bên trong người lao động nhằm phát huy và hướng nỗ lực bản thân thỏa mãn các nhu cầu của chủ thể, có khả năng khơi dậy tính tích cực lao động của con người.
Điển hình như các tác giả Stee và Porter, Pinder, Robbins, Nguyễn Thanh Tùng. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động, song dưới góc độ của nhà quản lý, đa số các tác giả đều thống nhất là động lực lao động là những yếu tố thôi thúc con người làm việc và giúp cho họ làm việc có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức, đồng thời thỏa mãn mong muốn của bản thân người lao động. Tóm lại, “Động lực lao động là những yếu tố tác động tích cực đến người lao động làm tăng khả năng cống hiến sức lao động và sức sáng tạo của họ trong việc thực hiện công việc được tổ chức/doanh nghiệp giao cho, đồng thời tăng cường sự gắn bó lâu dài của người lao động với tổ chức/doanh nghiệp”. SVTH: Dương Thị Thúy 9 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Như Phương Anh 1. Vai trò của động lực lao động. Đối với cá nhân người lao động. Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần.
Khi người lao động cảm thấy những nhu cầu được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy họ làm việc hiệu quả hơn. Đối với người lao động không có động lực thì hoạt động lao động khó có thể đạt được mục tiêu, chỉ lao động hoàn thành công việc được giao mà không có được sự sáng tạo, không cải thiện mức độ hiệu quả làm việc của người lao động. Động lực thúc đẩy người lao động không ngừng phấn đấu hoàn thiện hơn và phát huy tính sáng tạo, nâng cao sự hài lòng trong công việc, đảm bảo sự hợp tác trong tổ chức/ doanh nghiệp. Đối với tổ chức/doanh nghiệp.
Động lực cho người lao động góp phần xây dựng tinh thần hợp tác trong lao động, tăng hiệu quả quản lý công việc, xây dựng văn hóa tổ chức/ doanh nghiệp nhằm nâng cao vị thế, uy tín, thương hiệu của tổ chức/ doanh nghiệp từ đó giúp thu hút, giữ chân người lao động trình độ cao, ổn định nguồn nhân lực trong tổ chức/ doanh nghiệp. Đồng thời, động lực cho người lao động sẽ giúp tổ chức/ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, mang lại lợi ích tối đa cho tổ chức, tạo tiền đề cho động lực tập thể. Đối với xã hội. Động lực lao động gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phát triển vì mỗi tổ chức, doanh nghiệp quản lý tốt nguồn nhân lực, ổn định lực lượng lao động đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Động lực lao động giúp mỗi cá nhân, mỗi tổ chức/ doanh nghiệp trong xã hội đạt được mục tiêu qua đó hình thành nên những giá trị mới trong xã hội. Các nhân tố ảnh hưởng tới động lực lao động. Có thể kể tới hai nhóm nhân tố ảnh hưởng tới động lực lao động sau: - Nhóm nhân tố bên trong tổ chức/doanh nghiệp: Gồm nhân tố thuộc về tổ chức/doanh nghiệp, nhân tố thuộc về công việc và nhân tố thuộc về cá nhân người lao động. - Nhóm nhân tố bên ngoài tổ chức/doanh nghiệp: Gồm nhân tố thị trường lao động, chính sách của Nhà nước về lao động, sự cạnh tranh của các tổ chức/doanh nghiệp cùng ngành về lao động và sự biến động của nền kinh tế.
SVTH: Dương Thị Thúy 10 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Như Phương Anh 1. Tạo động lực cho người lao động. Khái niệm về tạo động lực cho người lao động.
Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích nên các nhà quản lý phải xác định động lực lao động và tìm cách tạo động lực cho người lao động nhằm kích thích người lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc và tạo được sự gắn bó với tổ chức. Một số quan niệm về tạo động lực cho người lao động như sau: Theo Lamham: Tạo động lực cho người lao động là một quá trình tâm lý do sự tương tác giữa cá nhân và môi trường. Do vậy, nhà quản lý cần tìm cách tạo ra môi trường làm việc thuận lợi thì sẽ tạo được động lực cho người lao động. Theo Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương: Tạo động lực cho người lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, phương pháp quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc Hồ Bá Thâm: Tạo động lực cho người lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức/doanh nghiệp.
Theo Lương Văn Úc: Tạo động lực cho người lao động được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn để đạt được các mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp. Từ một số quan điểm trên, tác giả kế thừa quan niệm về tạo động lực của tác giả Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương: Tạo động lực được hiểu là việc người sử dụng lao động ban hành các chính sách, biện pháp, phương pháp quản lý thích hợp tác động tích cực đến người lao động nhằm làm cho họ có động lực trong công việc 1. Mục tiêu của tạo động lực lao động trong tổ chức/ doanh nghiệp. Tạo động lực lao động sẽ có tác động tích cực đến tổ chức/doanh nghiệp như: - Thúc đẩy, khuyến khích người lao động làm việc với tinh thần chủ động, phát huy năng lực sáng tạo để cải thiện hiệu quả công việc trước những biến động của nền kinh tế thị trường.
SVTH: Dương Thị Thúy 11 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Như Phương Anh - Thu hút và giữ chân người lao động, làm cho người lao động gắn bó với tổ chức/ doanh nghiệp, đồng thời phát triển lực lượng lao động chất lượng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức/doanh nghiệp. - Hỗ trợ việc đạt được mục tiêu chung của tổ chức/doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn 1. Một số học thuyết về tạo động lực lao động.
Chủ đề về tạo động lực lao động đã có mặt trong nghiên cứu đầu thế kỷ 20 của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Đến nay, khái quát chia thành ba nhóm học thuyết: Các học thuyết về nguồn gốc tạo động lực, các học thuyết về quá trình tạo động lực, các học thuyết về tính cách xã hội. Hệ thống các công trình nghiên cứu học thuyết tạo động lực lao động. TT Các học thuyết tạo động lực Các công trình nghiên cứu điển hình về học thuyết tạo động lực I Nhóm các học thuyết về nguồn gốc tạo động lực 1 Học thuyết thứ bậc nhu cầu của Reuben M.
(2004) Abraham Maslow 2 Học thuyết hệ thống hai yếu tố Reuben M.Herzberg (2005) ; Rahman et al. (2017) ; Lundberg et al.G của Ivancevich et al. (2007) ; Song et al.Alderfer 4 Học thuyết nhu cầu của David Reuben M. (2017); Sunil Ramlall (2004) McCelland 5 Học thuyết đặc điểm công việc Gary & Craig (2005); Houkes et al.
của Hackman & Oldman (2001); Sunil Ramlall (2004) II Nhóm các học thuyết về quá trình tạo động lực 1 Học thuyết kỳ vọng của Victor Chiang & Jang (2008); Gary & Craig (2005); Vroom Moorhead & Griffen (2012); Parijat & Bagga (2014); Sunil Ramlall (2004) SVTH: Dương Thị Thúy 12 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Như Phương Anh 2 Học thuyết tăng cường tích cực Gary & Christopher (2006) của B.Skinner 3 Học thuyết công bằng của John Nguyễn Thùy Dung (2015); Greenberg S. 4 Học thuyết đặt mục tiêu của Abby (2007), Gary & Craig (2005); Richard E. 5 Học thuyết tự quyết của Edward Nguyễn Thanh Tùng (2019); Gagné & Deci L.
III Nhóm các học thuyết về tính cách xã hội 1 Học thuyết 5 yếu tố tính cách Mc Crae Terracciano et al.Costa Mc Crae & John (1992) 2 Học thuyết kiểu tính cách xã Laguna & Purc (2016); Parr & Bernthal hội của Michael Maccoby (2016) (Nguồn: Nguyễn Thanh Thủy (2022)) Nhận thấy mỗi yếu tố ảnh hưởng đến động lực lao động đều gắn với những học thuyết tạo động lực đã được các nhà khoa học tiếp cận, lý giải và vận dụng linh hoạt. Chính vì vậy, đề tài của khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu một số học thuyết tạo động lực tiêu biểu. Học thuyết nhu cầu Maslow. Abraham Maslow (1908-1970) là một học giả về quản lý và tâm lý học của Mỹ cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao thành 5 bậc.
SVTH: Dương Thị Thúy 13 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Như Phương Anh Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: http://vi.org) Nhu cầu sinh lý: Đáp ứng thông qua hệ thống thù lao lao động thỏa đáng, công bằng, đảm bảo thời gian làm việc nghỉ ngơi hợp lý trong lao động. Nhu cầu an toàn: Đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, thuận lợi, trang thiết bị bảo hộ lao động, bảo hiểm tai nạn lao động, ổn định công việc. Nhu cầu xã hội: Bầu không khí, văn hóa doanh nghiệp, mối quan hệ với đồng nghiệp, bạn bè.