CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TRONG NỀN GIÁO DỤC MỞ 1. Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu Việc nghiên cứu về chi phí đào tạo đại học mới được tiến hành vào thời gian gần đây, những năm cuối của thế kỷ 21, với đề tài nghiên cứu khoa học & công nghệ cấp Bộ do PGS.TS Nguyễn Văn Áng làm chủ nhiệm đề tài Xác định chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam. Về mặt lý luận, đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến chi phí đào tạo từ cơ chế phát triển, đầu tư cho giáo dục đào tạo đến chi phí cho giáo dục và đào tạo. Cơ chế phát triển giáo dục đào tạo là sự tác động tổng hợp của tất cả các yếu tố, các chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo, tạo nên khuôn khổ pháp lý và động lực cho sự phát triển giáo dục đào tạo.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sự thay đổi chức năng của các chủ thể gắn liền với các vấn đề như chi phí giáo dục đào tạo, cấp tài chính cho giáo dục đào tạo, cơ chế quản lý và cung ứng hàng hóa dịch vụ giáo dục đào tạo…. đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành cơ chế phát triển giáo dục đào tạo sản xuất và cung ứng hàng hóa dịch vụ giáo dục đào tạo. Đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Xét về phương diện kinh tế và xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo có cả ý nghĩa cá nhân và ý nghĩa xã hội.
Đối với mỗi cá nhân đó là đầu tư cho lưng vốn, cho nâng cao năng lực và kỹ năng lao động của bản thân; đối với nền kinh tế xã hội – đó là sự đầu tư cho nguồn nhân lực, nguồn vốn con người của dân tộc. Vì vậy, chi phí đầu tư cho giáo dục được cả Nhà nước, xã hội, mỗi gia đình và cá nhân quan tâm. Chi phí cho giáo dục đào tạo bao gồm: chi phí giảng dạy và chi phí học tập. Chi phí giảng dạy là chi phí từ phía người đào tạo, cơ sở giáo dục đào tạo và thường được tính bình quân để tạo ra một “suất học”/người học.
Chi phí -6- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 này là khác nhau đối với mỗi bậc học và ngành học khác nhau: giáo dục phổ thông, cao đẳng, đại học, dạy nghề…. Tiếp đó đề tài đã xây dựng được khung lý thuyết cho việc tính toán CPĐT thực tế 01 SVQĐ cho các trường, và đề xuất một số kiến nghị với Nhà nước và các trường đại học. Mặc dù đây mới chỉ là đề tài nghiên cứu riêng về việc xác định chi phí đào tạo thực tế 01 SVQĐ trong cơ sở đào tạo đại học nhưng kết quả cũng đã đưa ra được các phương án CPĐT đã được lựa chọn là phù hợp với khả năng đầu tư của nền kinh tế xã hội nước ta hiện nay cho giáo dục đại học. Từ đó, các nhà quản lý sẽ có những định hướng nhằm tìm ra được những biện pháp quản lý phù hợp để đạt được mục tiêu tiết kiệm chi phí đào tạo một cách tối ưu nhất, hiệu quả nhất và phù hợp nhất với đặc điểm riêng của từng cơ sở đào tạo.
Ngoài ra còn phải kể đến đề án “Nghiên cứu Đổi mới cơ chế cấp phát kinh phí trên cơ sở chi phí đào tạo các ngành học thuộc ĐHQG-HCM” của Nhóm nghiên cứu tài chính đại học – ĐH Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu của đề án này là việc tính toán ra được CPĐT hiện hành và CPĐT theo nhu cầu thực tế, từ đó đưa ra các đề xuất đổi mới cơ chế chính sách như: lộ trình thực hiện CPĐT theo yêu cầu thực tế đến 2015, tầm nhìn 2020; đề án thí điểm chương trình đào tạo chất lượng cao - học phí tương ứng giai đoạn 2012-2017; đề án đào tạo theo đặt hàng của Nhà nước đối với các ngành khoa học cơ bản, xã hội có nhu cầu nhưng khó tuyển sinh. Từ tháng 10/2011 đến tháng 6/2012, Trung tâm nghiên cứu kinh tế phát triển, trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội thực hiện nghiên cứu “Xác định chi phí đào tạo một sinh viên đại học của Việt Nam” của Tiểu thành phần 1.2 Tài chính thuộc Dự án Giáo dục Đại học 2, kết quả của việc nghiên cứu đó là xác định CPĐT thực tế một sinh viên đại học Việt Nam, xác định CPĐT hợp lý theo các mức chất lượng khác nhau cho một sinh viên đại học Việt Nam và đề xuất chính sách học phí. -7- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Các nghiên cứu kể trên đã đưa ra được những lý luận chung về chi phí đơn vị theo nhóm ngành.
Chi phí đơn vị thực tế là chi phí có thể quan sát được hoặc có nguồn gốc từ các dữ liệu thực tế. Chi phí này có xu hướng phản ánh chính sách quá khứ và hiện tại của Chính phủ về ngân sách công và chỉ tiêu tuyển sinh. Chi phí đơn vị hợp lý phản ánh mức chi phí cần thiết để đào tạo một sinh viên tốt nghiệp với đầy đủ các kỹ năng và hiểu biết cần thiết. Chẳng hạn, các sinh viên khoa học kỹ thuật cần phải dành một phần thời gian nghiên cứu hợp lý ở các phòng thí nghiệm.
Chi phí hợp lý do đó phù hợp với các quyết định phân bổ ngân sách trong tương lai, tuy nhiên, về mặt bản chất và theo định nghĩa, loại chi phí ngày không thể rút ra được từ các dữ liệu lịch sử. Từ những kinh nghiệm quốc tế cũng như kinh nghiệm trong nước ta có thể rút ra một nhận định rằng: một trường đại học đa ngành có thể đào tạo sinh viên với chi phí đơn vị thấp hơn so với một nhóm các trường đại học đơn ngành tương đương. Tuy nhiên, mô hình này trở nên khó nhận biết hơn khi các trường đại học đa ngành được đưa vào mẫu nghiên cứu. Tiêu chuẩn giảng dạy theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo dường như ảnh hưởng đến chi phí đơn vị theo hướng dự đoán được.
Đối với hầu hết các trường đại học, chi phí đơn vị thực tế có xu hướng giảm khi tỷ lệ học sinh trên cán bộ giảng dạy gia tăng. Tương tự, dường như có một mối quan hệ cùng chiều giữa chi phí đơn vị thực tế và diện tích sàn một sinh viên ở hầu hết các trường đại học. Chẳng hạn chi phí đơn vị thực tế có xu hướng tăng khi diện tích sàn một sinh viên gia tăng. Và các trường đại học tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có chi phí đơn vị thực tế cao hơn đáng kể so với các trường đại học ở các thành phố khác.
Trên cơ sở phân tích thực trạng chi phí đào tạo từ những nghiên cứu kể trên, và tùy thuộc vào tình hình thực tiễn, mỗi nhà trường (cơ sở đào tạo) sẽ tự xây dựng và hoàn thiện dần hoạt động quản lý tài chính của mình, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả đào tạo và chất lượng các hoạt động của nhà trường. Tuy nhiên, bất cứ một quyết định quản lý nào cũng liên quan đến những -8- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 khoản chi phí nhất định, do đó, việc đề xuất các quyết định tài chính cần thiết phải tính tới kết quả đạt được từ mức chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó, và phải đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với điều kiện cũng như yêu cầu của công tác đào tạo. Một số khái niệm cơ bản 1. Tài chính, quản lý tài chính trong giáo dục Tài chính trong giáo dục là chính sách sử dụng tiền tệ, quản lý tiền tệ theo các mục đích của nền giáo dục mà nhà nước có trách nhiệm.
Các cơ sở đào tạo của nước ta dù hoạt động trong hệ thống nào (công lập, ngoài công lập) đều phải tuân thủ các quy định về quản lý tài chính do nhà nước ban hành. Quản lý tài chính là một bộ phận cấu thành trong công tác quản lý nhà trường và gắn bó mật thiết với các lĩnh vực quản lý khác như: quản lý đội ngũ, quản lý chương trình đào tạo, quản lý tổ chức các hoạt động phục vụ cộng đồng. Quản lý tài chính trong nhà trường bao gồm tổng thể các hoạt động của nhà quản lý trong quá trình nghiên cứu, dự báo, phân tích, ra các quyết định tài chính và tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm thực hiện các mục tiêu đã được xác định. Theo cách định nghĩa khác, quản lý tài chính là một công cụ quản lý quan trọng, chi phối toàn bộ hoạt động của nhà trường, có mối liên hệ biện chứng và chịu sự quy định của nhiệm vụ, bộ máy tổ chức, cơ chế tài chính và hệ thống các quy định của nhà nước.
Một chu kỳ hoạt động tài chính phải đảm bảo các thành tố của quy trình quản lý chung. Nội dung cơ bản của công tác quản lý tài chính trong các trường bao gồm: kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra. Quản lý tài chính có chức năng đảm bảo cho các hoạt động của nhà trường được thực hiện theo đúng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và quy mô, loại -9- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hình đào tạo. Đồng thời, công tác quản lý tài chính còn bị tác động bởi cơ chế tài chính, nguồn kinh phí cùng các yếu tố khách quan khác.
Nhiệm vụ thông thường của công tác quản lý tài chính trong nhà trường được cụ thể hóa như sau: Chủ tài khoản: Khoản 1, điều 20, Luật Giáo dục đại học 2012, quy định “Hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại học, giám đốc học viện, đại học (sau đây gọi chung là hiệu trưởng) là người đại diện cho cơ sở giáo dục đại học trước pháp luật, chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học. Khoản 4, điều 20, nêu “., chủ tịch hội đồng quản trị cơ sở giáo dục đại học tư thục là chủ tài khoản, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của cơ sở giáo dục đại học;… Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học tư thục là đại diện chủ tài khoản theo ủy quyền, thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ như chủ tài khoản trong phạm vi được ủy quyền”.