CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHO VAY VÀ QUY TRÌNH CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Các công trình nghiên cứu đã thực hiện Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu để tạo ra thu nhập của các NHTM. Bởi vậy đây là đề tài luôn được quan tâm, có rất nhiều các công trình nghiên cứu. Phát triển hoạt động cho vay, hoàn thiện công tác QTRR đối với hoạt động cho vay, mở rộng cho vay… là những đề tài rất phổ biến. Với đề tài luận án tiến sĩ “Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam (Lấy thực tế từ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam)” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2016), tác giả Nguyễn Thị Bích Vượng đã phát hiện và chứng minh những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của NHTM bao gồm: (i) Nhân tố chủ quan: nhân viên thẩm định, phương tiện phục vụ thẩm định, nguồn thông tin phục vụ thẩm định, tổ chức công tác thẩm định, quy trình và phương pháp thẩm định.
(iii) Nhân tố khách quan khác: lạm phát, yếu tố thị trường, tỷ giá hối đoái…. Mặc khác, từ kết quả khảo sát 50 lãnh đạo và 200 cán bộ thẩm định thuộc các chi nhánh của hệ thống Vietinbank Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Vietinbank Việt Nam: cán bộ thẩm định, nguồn thông tin phục vụ thẩm định, tổ chức công tác thẩm định, quy trình thẩm định, phương tiện thẩm định, chỉ tiêu và phương pháp thẩm định; tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Linear Regression Analysis thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để đưa ra phương trình hồi quy chuẩn hóa như sau: 5 Chất lượng thẩm định = 0.354*Cán bộ thẩm định + 0.327* Nguồn thông tin + 0.310*Phương pháp thẩm định +0.289*Quy trình thẩm định + 0.223*Tổ chức công tác thẩm định +0.223*Chỉ tiêu thẩm định + 0.218*Phương tiện thẩm định. Phương trình hồi quy trên có thể thấy: yếu tố về chất lượng cán bộ thẩm định thể hiện sự ảnh hưởng mạnh nhất tới chất lượng công tác thẩm định; tiếp theo là nguồn thông tin chính xác, tin cậy; tiếp theo là yếu tố về việc lựa chọn phương pháp thẩm định hiện đại, hợp lý; tiếp theo là quy trình thẩm định hợp lý; tiếp theo là công tác tổ chức cán bộ thẩm định; tiếp theo là chỉ tiêu thẩm định được áp dụng hiệu quả, cuối cùng là sự hiện đại, đầy đủ của phương tiện thẩm định. Với đề tài luận án tiến sĩ “Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế trên thị trường Việt Nam” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2015), tác giả Nguyễn Tú đã khái quát kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM một số nước trên thế giới, từ đó rút ra bài học nói riêng cho ngân hàng TMCP Quốc Tế (VIB) nói riêng và cho các NHTM Việt Nam nói chung.
Qua nghiên cứu và đánh giá chuyên sâu, tác giả đã đưa ra được những đóng góp mới làm cơ sở cho các NHTM tham khảo để tăng năng lực cạnh tranh, về mặt lý luận đó là: Tăng năng lực cạnh tranh từ việc cần xây dựng các trung tâm bán hàng, trung tâm phê duyệt và hỗ trợ tín dụng theo các vùng kinh tế để chuyên môn hóa nhằm tăng trưởng số lượng khách hàng, cho vay ổn định và bền vững, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Chú trọng đầu tư sâu vào phần mềm công nghệ (core banking) để khai thác các tính năng nhằm tạo ra các gói sản phẩm dịch vụ tiện ích theo chuỗi cung ứng vừa đảm bảo QTRR đồng thời kiểm soát tối ưu hóa lợi nhuận; và xây dựng chỉ số đánh giá thực hiện công việc KPI (Key Performance Indicator) đo lường đánh giá hiệu quả hoạt động tại mọi thời điểm làm cơ sở quản trị năng lực cạnh tranh. Với đề tài luận án tiến sĩ “Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” (Trường Đại học ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013), tác giả Trần Trọng Huy đã nhìn nhận và đưa ra một trong 6 những điểm yếu về quy mô và chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là: “Quy trình tín dụng tập trung bộc lộ nhiều hạn chế. Trong đó, hạn chế lớn nhất là cán bộ tín dụng thực hiện tất cả các bước chủ yếu trong quá trình cho vay: Một là, số liệu sử dụng để làm căn cứ thẩm định chưa đầy đủ, thiếu chính xác.
Hai là, quy trình tín dụng còn hạn chế trong việc phân cấp trách nhiệm của cán bộ, việc trao đổi cán bộ tín dụng quá nhiều quyền là cơ hội để không ít cán bộ tín dụng có đạo đức nghề nghiệp kém lợi dụng để trục lợi”. Luận án không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh mà còn hướng đến sự thống nhất và xây dựng một hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam vững mạnh, hiện đại hoạt động theo thông lệ quốc tế. Với đề tài luận văn cao học “Phát triển hoạt động cho vay tại HDBank chi nhánh Hoàn Kiếm” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012), tác giả Phạm Duy Cận đã xác định cho vay luôn là hoạt động quan trong bậc nhất của hệ thống các NHTM Việt Nam nói chung và HDBank nói riêng. Qua phân tích tình hình hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại HDBank chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn từ 2009 đến 2011, tác giả đã chỉ ra những mặt tích cực cũng như những mặt hạn chế của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân từ đó đề xuất các giải pháp phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại HDBank chi nhánh Hoàn Kiếm.
Một trong những đề xuất điển hình đó là nhóm giải pháp về quy trình, xử lý hồ sơ, phân đoạn khách hàng cá nhân của chi nhánh. Tác giả đánh giá “để nâng cao sức cạnh tranh lôi cuốn khách hàng thì việc cải tiến quy trình là điều cần thiết nhằm tạo cho khách hàng sự thuận tiện và thoải mái nhất là trong giao dịch với ngân hàng”. Với đề tài luận văn cao học “Hoàn thiện công tác QTRR trong hoạt động cho vay của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2013), tác giả Đào Xuân Sơn đã phân tích và đưa ra hai trong những nguyên nhân dẫn tới rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM là: “Trình độ quản lý và năng lực chuyên môn của nhân viên ngân hàng còn hạn chế, thiếu kinh 7 nghiệm trong công tác, yếu kém trong khâu phân tích, thẩm định khách hàng, hồ sơ vay vốn, đo lường rủi ro tín dụng”; “Do sự kiểm tra, giám sát khoản vay không thường xuyên, không phát hiện kịp thời các dấu hiệu cảnh báo rủi ro đối với khách hàng. Các hệ thống đánh giá và quản lý rủi ro tín dụng chưa đạt được yêu cầu về sự chặt chẽ, thống nhất và hợp lý”.
Tác giả cũng đề xuất phương án để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay là: “Tăng cường kiểm tra, kiểm soát sự tuân thủ quy trình tín dụng và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra nội bộ. Sự tuân thủ quy định tín dụng và định hướng cho vay trong từng thời kỳ là yêu cầu bắt buộc, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng”. Với đề tài luận văn cao học “Phát triển hoạt động cho vay cá nhân tại chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Sơn La” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012), tác giả Nguyễn Hữu Phong đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay cá nhân của NHTM, tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng phát triển hoạt động cho vay cá nhân tại chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Sơn La; qua đó chỉ ra những điểm thành công, vướng mắc, hạn chế và những nguyên nhân hạn chế. Nhân tố thứ sáu ảnh hưởng đến hoạt động cho vay cá nhân của NHTM theo quan điểm của tác giả là quy trình cấp tín dụng: “Quy trình cấp tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, các quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng, gồm các bước cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng.
Việc xây dựng một quy trình cấp tín dụng hoàn thiện và có hiệu quả có ý nghĩa rất lớn trong công tác ngăn ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra, đồng thời nó còn gây được cảm tình với khách hàng và thu hút được nhiều khách hàng hơn”. Mục đích mà tác giả hướng là đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm phát triển hoạt động cho vay cá nhân hiệu quả, góp phần giúp chi nhánh phát triển hệ thống kinh doanh ổn định bền vững, từ đó cùng chung tay góp phần đưa nền kinh tế của tỉnh Sơn La ngày một đi lên thoát khỏi đói nghèo. Với đề tài luận văn cao học “Hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương - chi nhánh Hoàn Kiếm” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012), tác giả Trương Bích Ngọc đã khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết của thẩm định tín dụng với 8 hoạt động cho vay như sau: “công tác thẩm định tín dụng trước khi cấp vốn cho khách hàng là thực sự cần thiết. Mỗi hồ sơ vay vốn đều phải tuân thủ các thủ tục và đầy đủ giấy tờ cần thiết trong đó có phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư.
Quá trình thẩm định sẽ giúp ngân hàng tính toán và dự báo được hiệu quả của phương án và dự án. Từ đó ngân hàng sẽ có quyết định cho vay, đầu tư đúng đắn, mang lại hiệu quả cao. Nếu công tác thẩm định tín dụng kém sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng, nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng đến hoạt động an toàn của ngân hàng, mất uy tín cho ngân hàng và có thể làm ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản”.