Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi gia cầm gần một thập kỷ qua đã được cả thế giới quan tâm và phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật cho con người. Gia cầm chiếm từ 20 - 25% trong tổng sản phẩm thịt. Ở các nước phát triển, thịt gà chiếm từ 30% hoặc hơn nữa.
Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê tại thời điểm năm 1/10/2017, tổng đàn gia cầm cả nước đạt trên 385,5 triệu con, tăng 6,6% (gà tăng 6,5%) so với cùng kỳ năm 2016; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 1,03 triệu tấn, tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2017. Chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đang phát triển cả về số lượng và chất lượng. Với 4 phương thức chủ yếu là: Chăn nuôi nhỏ nông hộ; Chăn nuôi bán chăn thả; Chăn nuôi bán công nghiệp; Chăn nuôi công nghiệp. Năm 2017 có khoảng 213 triệu con gà thịt và 6,1 triệu con gà đẻ.
Tổng số lượng gà đã xuất chuồng là 239 triệu con với sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 437 ngàn tấn. Sản lượng trứng trong kỳ đạt 3,5 tỷ quả. Hầu hết các giống gia cầm cao sản của thế giới đều được nhập vào nuôi ở Việt Nam thông qua các công ty nước ngoài, công ty liên doanh (Japfa, CP, Dabaco…) và Trung tâm nghiên cứu gia cầm – Viện chăn nuôi. Trong đó gà thịt broiler có nguồn gốc ở Mỹ, hiện nay đang được nuôi phổ biến ở nước ta.
Đây là giống gà hướng thịt nhập nội, có lông màu trắng, mào đơn, cơ ngực và cơ đùi rất phát triển, gà sinh trưởng nhanh, năng suất thịt khá cao. Để khai thác tối đa khả năng sản xuất của vật nuôi. Các chương trình chăn nuôi khép kín và hệ thống mạng lưới chăn nuôi gia công do các công ty nước ngoài triển khai đang phát triển hầu khắp cả nước. Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng các sản phẩm 2 của gia cầm.Vì vậy, việc thực hiện đúng qui trình chuẩn trong chăn nuôi là hết sức quan trọng.
Ngoài ra khi trực tiếp thực hiện qui trình chăn nuôi, kỹ năng và thái độ nghề của sinh viên được bổ sung và hoàn thiện. Từ những lý do đó, được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Minh Thuận cùng với sự tiếp nhận của công ty Japfa em đã tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại công ty Japfa comfeed việt nam chi nhánh Sông Công Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục tiêu của chuyên đề - Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt. - Tham gia phòng và trị bệnh trên gà thịt. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt. - Đưa ra phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt.
Yêu cầu của chuyên đề - Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt. - Biết cách phòng bệnh cho gà thịt. - Biết được cách chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà thịt. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Sông Công là thành phố trực thuộc tỉnh Thái Nguyên. Nằm ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên với diện tích 98,37 km², gồm các xã (phường): thành phố Sông Công có 7 phường: Bách Quang, Cải Đan, Lương Châu, Lương Sơn, Mỏ Chè, Phố Cò, Thắng Lợi và 4 xã: Bá Xuyên, Bình Sơn, Tân Quang, Vinh Sơn. Địa hình đất đai: thành phố Sông Công thuộc vùng trung du Bắc Bộ.
Địa hình tương đối bằng phẳng, mang đặc điểm của miền trung du, nền dốc dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Thành phố Sông Công được dòng Sông Công chia làm 2 khu vực phía Đông và phía Tây tạo 2 nhóm cảnh quan chính: Khu vực phía Đông có địa hình đồng bằng, xen lẫn gò đồi nhỏ và thấp, có độ cao trung bình từ 25 – 30m, phân bố dọc theo thung lũng sông thuộc các xã Bá Xuyên, xã Tân Quang và các phường Lương Châu, Thắng Lợi, Cải Đan, Phố Cò, Bách Quang. Khu vực phía Tây có địa hình chủ yếu là gò đồi và núi thấp với độ cao 80 – 100 m, một số đồi cao khoảng 150 m và núi thấp trên 300 m, phân bố dọc theo ranh giới phía Tây thành phố trên địa phận các xã Bình Sơn và Vinh Sơn. • Nhiệt độ không khí trung bình 23°C, tháng cao nhất là 38°C, tháng thấp nhất là 16,1°C.
• Độ ẩm trung bình năm 82%, tháng cao nhất là 86%, tháng thấp nhất là 78%. • Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.168 mm, tháng lớn nhất là 443 mm, tháng nhỏ nhất 22 mm. Giao thông, thủy lợi Thủy lợi: Sông Công bắt nguồn từ vùng Đèo Khế, tỉnh Thái Nguyên, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Sau khi ra khỏi hồ Núi Cốc ở phía 4 Tây thành phố Thái Nguyên, nó chia thành hai nhánh.
Nhánh chính chảy qua trung tâm thành phố Sông Công, qua thị xã Phổ Yên để hội lưu với sông Cầu. Nhánh phụ nhỏ hơn chảy qua phía Bắc thành phố Sông Công, huyện Phú Bình rồi chảy vào thị xã Phổ Yên để nối với sông Cầu. Sông này dài 96 km. Diện tích lưu vực 951 km², cao trung bình 224 m, độ dốc trung bình 27,3%, mật độ sông suối 1,20 km/km².
Tổng lượng nước 0,794 km³ ứng với lưu lượng trung bình năm 25 m³/s, môđun dòng chảy năm 26l/s. Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 74,7% lượng nước cả năm, tháng 8 có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 19,30% lượng nước cả năm; tháng cạn kiệt nhất chiếm 1,8% lượng nước cả năm. Mạng lưới giao thông, các tuyến đường, phố chính: • Đường Cách mạng Tháng 10 • Đường Thắng Lợi • Đường 3/2 • Đường 30/4 • Đường Lương Sơn • Đường Cách mạng Tháng Tám • Đường Thống Nhất • Đường Trần Phú • Đường Trần Hưng Đạo • Đường Lê Hồng Phong • Đường Nguyễn Văn Cừ • Đường Vũ Xuân • Đường Lý Thường Kiệt • Phố An Châu • Phố Tôn Thất Tùng • Phố Ngô Sĩ Liên • Phố Kim Đồng 5 • Phố Nguyễn Lương Bằng • Phố Nguyễn Khuyến Các tuyến đường trong xã, trong xóm đã được bê tông hóa. Tuy nhiên còn một số tuyến đường lên xã đã bị xuống cấp chưa khắc phục được nên cũng gặp một số hạn chế nhất định trong việc đi lại giao lưu buôn bán.
Điều kiện kinh tế xã hội Những năm gần đây, kinh tế của thành phố Sông Công phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt khá, mức tăng trưởng bình quân đạt 17% năm. Cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế, xã hội đã và đang từng bước phát triển mạnh.P Sông Công đã nỗ lực không ngừng cùng với các cấp, ngành hoàn thành tốt các chỉ tiêu được giao, trong đó nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch. Cụ thể: tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 5.771 tỷ đồng, bằng 112% so với kế hoạch, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước; giá trị xuất khẩu đạt 120,2 triệu USD (tăng 42% so với cùng kỳ năm 2016); thu ngân sách ước đạt 571,6 tỷ đồng (tăng 194% so với cùng kỳ); giá trị hàng hóa bán lẻ đạt trên 1. Người dân chủ yếu là công nhân làm tại khu công nghiệp Sông Công và một số làm tại các nhà máy trên địa bàn thị xã và các cơ quan hành chính Nhà nước, số còn lại trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi tại địa phương và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
Điều kiện cơ sở vật chất của trại Với sự đầu tư cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả và giảm công sức lao động trang trại đã có những đầu tư về cơ sở vật chất như sau: - Trang trại được xây mới và hoạt động từ tháng 3 năm 2017. Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh. 6 - Được lắp đặt, trang bị máng ăn, máng uống tự động, mỗi trại gồm 4 đường ăn và 6 máng nước. Nền trại bê tông và mái được lợp bằng tôn xốp cách nhiệt.
- Có 2 kho cám, 2 xilo cám, 2 máy phát điện, 3 máy nén khí, mỗi chuồng 10 quạt thông gió và mỗi trại có 1 lò sưởi. - Trong mỗi chuồng có 3 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi. - Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan và có các bể chứa khử nước. - Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện.
- Sân trại được bê tông hóa và trang trại được lắp 8 camera xung quanh theo dõi. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại tổ chức như sau: - Diện tích chuồng trại là 2. - 2 dãy chuồng (chuồng 1 có chiều dài 75m, chiều rộng 17m và chuồng 2 dài 75m, rộng 15m) mỗi chuồng nuôi khoảng 10. - Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh.
- Đội ngũ cán bộ, quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm: 01 quản lý 01 kĩ sư 02 công nhân 02 sinh viên thực tập 01 chủ trang trại - Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho chỗ ở và sinh hoạt theo gia đình chủ trại. Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Cơ sở khoa học 2. Một số đặc điểm của giống gà Broiler Giống gà broiler được nuôi nhiều ở Việt Nam từ năm 1993.
Việt Nam nhập giống gà AA từ đàn ông bà ở Malaysia và Thái Lan năm 1993. Gà bố mẹ và con thương phẩm đều có lông màu trắng, mào đơn, vỏ trứng màu nâu. Gà thịt broiler sinh trưởng nhanh, gà thịt nuôi lúc 42 ngày tuổi con trống đạt trọng lượng 2,5 kg, con mái đạt trọng lượng 2,3 kg. Lúc 49 ngày tuổi gà trống đạt 2,8 kg (2,4 - 2,5 kg), gà mái đạt 2,6 kg (2,3 -2,4 kg).
Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng từ 2,1 - 2,2 kg. Giống gà này rất được ưu chuộng, tuy nhiên vì lớn nhanh nên yêu cầu về nuôi dưỡng và kỹ thuật cao chỉ phù hợp với những cơ sở chăn nuôi lớn. Năng suất của đàn bố mẹ khối lượng lúc 20 tuần tuổi là 2,8 - 3,0 kg/con trống; 2,0 – 2,2 kg/con mái. Gà có năng suất cao hơn BE và HV85.
Khi gà trống 7 tuần đạt trọng lượng 3,2 kg, gà mái: 2,6 kg. Gà broiler 49 ngày tuổi nặng 2,2-2,5 kg, tiêu tốn 2,1-2,2 kg/kg tăng trọng.