Đặt vấn đề Nghề chăn nuôi gia cầm của nước ta đã có lịch sử rất lâu đời chiếm vị trí quan trọng trong nghành chăn nuôi của Việt Nam. Chăn nuôi gia cầm cung cấp thực phẩm cho con người, đồng thời cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một phần sản phẩm của nó là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi gia cầm đã giúp cho người dân tăng thêm nguồn thực phẩm tự cung, tự cấp và góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao.
Theo số liệu điều tra vào tháng 10/2016 của Tổng cục Thống kê, đàn gia cầm cả nước đã đạt khoảng 361,7 triệu con, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà đạt 277,2 triệu con, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2015 và tính tổng sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng năm 2016 đạt khoảng 961.600 tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm. Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà.
Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp. n 2 Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại Công ty Japfa chi nhánh Sông Công Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt.
- Biết được lịch phòng bệnh trên gà thịt. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại Công ty Japfa Comfeed chi nhánh Sông Công Thái Nguyên. - Đưa ra phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt. Yêu cầu của đề tài - Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt.
- Biết cách phòng bệnh cho gà thịt. - Biết được cách chẩn đoán và điều trị bệnh. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên Sông Công là thành phố trực thuộc tỉnh Thái Nguyên. Nằm ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên với diện tích 98,37 km², gồm các xã (phường):thành phố Sông Công có 7 phường: Bách Quang, Cải Đan, Lương Châu, Lương Sơn, Mỏ Chè, Phố Cò, Thắng lợi và 4 xã: Bá Xuyên, Bình Sơn, Tân Quang, Vinh Sơn. Địa hình đất đai:thành phố sông Công thuộc vùng trung du Bắc Bộ. Địa hình tương đối bằng phẳng, mang đặc điểm của miền trung du, nền dốc dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, có nhiều ngọn cao vài trăm mét.
Thành phố Sông Công được dòng Sông Công chia làm 2 khu vực phía đông và phía tây tạo 2 nhóm cảnh quan chính: khu vực phía đông có địa hình đồng bằng, xen lẫn gò đồi nhỏ và thấp, có độ cao trung bình từ 25 – 30 m, phân bố dọc theo thung lũng sông thuộc các xã Bá Xuyên, xã Tân Quang và các phường Lương Châu, Thắng Lợi, Cải Đan, Phố Cò, Bách Quang: khu vực phía tây có địa hình chủ yếu là gò đồi và núi thấp với độ cao 80 – 100 m; một số đồi cao khoảng 150 m và núi thấp trên 300 m, phân bố dọc theo ranh giới phía tây thành phố trên địa phận các xã Bình Sơn và Vinh Sơn. • Nhiệt độ không khí trung bình 23°C, tháng cao nhất là 28°C,tháng thấp nhất là 16,1°C. • Độ ẩm trung bình năm 82%, tháng cao nhất là 86%, tháng thấp nhất là 78%. • Lượng mưa trung bình hàng năm là 2168 mm, tháng lớn nhất là 443 mm, tháng nhỏ nhất 22 mm.
Giao thông, thủy lợi n 4 Thủy lợi: sông Công bắt nguồn từ vùng Đèo Khế, tỉnh Thái Nguyên, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Sau khi ra khỏi hồ Núi Cốc ở phía tây thành phố Thái Nguyên, nó chia thành hai nhánh. Nhánh chính chảy qua trung tâm thành phố Sông Công, qua thị xã Phổ Yên để hội lưu với sông Cầu. Nhánh phụ nhỏ hơn chảy qua phía Bắc thành phố Sông Công, huyện Phú Bình rồi chảy vào thị xã Phổ Yên để nối với sông Cầu.
Sông này dài 96 km. Diện tích lưu vực 951 km², cao trung bình 224 m, độ dốc trung bình 27,3%, mật độ sông suối 1,20 km/km². Tổng lượng nước 0,794 km³ ứng với lưu lượng trung bình năm 25 m³/s, môđun dòng chảy năm 26l/s. Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 74,7% lượng nước cả năm, tháng 8 có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 19,30% lượng nước cả năm; tháng cạn kiệt nhất chiếm 1,8% lượng nước cả năm.
Mạng lưới giao thông, các tuyến đường, phố chính: • Đường Cách mạng Tháng 10 • Đường Thắng Lợi • Đường 3/2 • Đường 30/4 • Đường Lương Sơn • Đường Cách mạng Tháng Tám • Đường Thống Nhất • Đường Trần Phú • Đường Trần Hưng Đạo • Đường Lê Hồng Phong • Đường Nguyễn Văn Cừ • Đường Vũ Xuân • Đường Lý Thường Kiệt • Phố An Châu n 5 • Phố Tôn Thất Tùng • Phố Ngô Sĩ Liên • Phố Kim Đồng • Phố Nguyễn Lương Bằng • Phố Nguyễn Khuyến Các tuyến đường trong xã, trong xóm đã được bê tông hóa. Tuy nhiên còn một số tuyến đường lên xã đã bị xuống cấp chưa khắc phục được nên cũng gặp một số hạn chế nhất định trong việc đi lại giao lưu buôn bán. Điều kiện kinh tế xã hội Những năm gần đây, kinh tế của thành phố Sông Công phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt khá, mức tăng trưởng bình quân đạt 17% năm. Cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế, xã hội đã và đang từng bước phát triển mạnh.
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 8/2016 ước đạt 1,8 tỷ USD, tính chung 8 tháng đầu năm 2016, giá trị xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn ước đạt 12,3 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ, bằng 58,6% kế hoạch cả năm. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 6,53%. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 24,6 triệu đồng/người/năm, thu ngân sách thành phố ước đạt trên 115 tỷ đồng, sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt trên 17 nghìn tấn, bằng 101% kế hoạch tỉnh giao, 104% kế hoạch thành phố, tăng 0,94%; tỷ lệ hộ nghèo còn 7,21% giảm 3,08%. Người dân chủ yếu là công nhân làm tại khu công nghiệp Sông Công và một số làm tại các nhà máy trên địa bàn thị xã và các cơ quan hành chính Nhà nước, số còn lại trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi tại địa phương dân số và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
Điều kiện của cơ sở vật chất của trại Với sự đầu tư cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả và giảm công sức lao động trang trại đã có những đầu tư về cơ sở vật chất như sau: - Trang trại được xây mới và hoạt động từ tháng 3 năm 2017. Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh. - Được lắp đặt, trang bị máng ăn, máng uống uống tự động, mỗi trại gồm 4 đường ăn và 6 máng nước. Nền trại bê tông và mái được lợp bằng tôn xốp cách nhiệt.
- Có 2 kho cám, 2 xilo cám, 2 máy phát điện, 3 máy nén khí, mỗi chuồng 10 quạt thông gió và mỗi trại có 1 lò sưởi. - Trong mỗi chuồng có 3 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi. - Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan và có các bể chứa khử nước. - Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện.
- Sân trại được bê tông hóa và trang trại được lắp 8 camera xung quanh theo dõi. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại tổ chức như sau : - Diện tích chuồng trại là 2400m2(2 chuồng). - Gồm 2 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 10. - Chuồng 1 có chiều dài 75m, chiều rộng 17m và chuồng 2 dài 75m, rộng 15m.
- Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh và lắp 8 camera theo dõi quanh khu vực trại. - Đội ngũ cán bộ, quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm: 01 quản lý n 7 01 kĩ sư 02 công nhân 02 sinh viên thực tập Và 01 chủ trang trại. - Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho chỗ ở và sinh hoạt theo gia đình chủ trại. Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Cơ sở khoa học 2. Một số đặc điểm của giống gà broiler - Gà broiler có lông màu trắng, chân cao, mào cờ, thân hình cân đối, sản lượng trứng 60 tuần tuổi 131quả. Chúng gồm 4 dòng thuần Bl, El, B4, E3. -Trong đó dòng Bl và El được dùng làm dòng trống có nguồn gốc từ giống Comish trắng.
B4 và E3 là 2 dòng mái có nguồn gốc từ giống Plymouth trắng. Gà broiler có ưu thế khi được lai với các dòng gà mái khác cho con lai thương phẩm hướng thịt. Nuôi 49 - 50 ngày, con mái có trọng lượng 2 - 2,2 kg, con trống đạt 2,1 - 2,3 kg. Gà mái mỗi năm cho 160 - 170 quả trứng.
Công thức lai để tạo ra thương phẩm thịt broiler như sau: gà bố mẹ dùng con trống BE 11 là con lai giữa hai dòng gà Cooc – Nish, còn con mái BE43 là con lai giữa hai dòng gà Plymut. -Gà dòng mẹ BE 43 cho đặc điểm di truyền liên kết giới tính, khi gà con mới nở, con trống mọc lông chậm, gà mái mọc lông nhanh. Do vậy, có thể phân biệt trống mái dễ dàng dựa trên tốc độ mọc lông. Toàn bộ gà mái được giữ lại làm giống, còn gà trống loại bỏ để nuôi gà thương phẩm.
Gà broiler nuôi 8 tuần tuổi đạt 2,2 kg/con mái; 2,7 kg/con trống; tiêu tốn 2,16 kg thức ăn/kg tăng trọng. Tỷ lệ thân thịt 68,3%; tỷ lệ thịt ngực 14,3%; thịt đùi 23,9%. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú.