Đặt vấn đề Cùng với sự tăng trưởng kinh tế toàn thế giới, nền kinh tế nước ta đang không ngừng phát triển với đa dạng các ngành nghề. Trong đó chăn nuôi là một ngành quan trọng và đang ngày càng phát triển lớn mạnh, biểu hiện cụ thể là hiện nay nước ta có rất nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty sản xuất thức ăn, thuốc thú y phục vụ ngành chăn nuôi. Chăn nuôi không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho người dân mà còn là ngành kinh tế đem lại lợi nhuận cao, giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho nhiều người lao động. Theo chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được chính phủ phê duyệt ngày 16/01/2008, chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng vẫn chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi nước ta trong nhiều năm tới.
Mục tiêu phát triển đến năm 2020, sản lượng thịt xẻ các loại đạt 5500 tấn, trong đó thịt gia cầm chiếm tới 32%. Do đó hiện nay bên cạnh những giống gà hướng trứng, các giống gà hướng thịt cũng ngày càng được quan tâm chú trọng đầu tư phát triển. Nhu cầu về thực phẩm ngày càng lớn, số lượng và chất lượng đàn gà ngày càng được nâng cao, cải thiện. Chăn nuôi gà hướng thịt thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung ở nước ta đã trở thành một trong những nghề phát triển khá nhanh.
Với những thuận lợi có được như hiện nay về các giống gà chuyên dụng, chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý, phù hợp để đảm bảo năng suất. Hiểu được yêu cầu đó, cùng với sự tạo điều kiện thực hành tại cơ sở của thầy cô khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em thực hiện đề tài “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh cho đàn gà tại Trang trại gia cầm Nguyễn Hải An, Xã Tân Lập, Huyện Sông Lô, Tỉnh Vĩnh Phúc”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt.
- Thực hiện đầy đủ lịch phòng bệnh cho gà thịt. - Biết so sánh, tìm hiểu để xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi chuồng kín. - Đưa ra phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt. Yêu cầu của chuyên đề - Trực tiếp thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt.
- Sử dụng các biện pháp để chẩn đoán bệnh cho gà thịt. - Thực hiện các phác đồ điều trị bệnh. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên Sông Lô là huyện miền núi mới được thành lập tháng 4 năm 2009 gồm 17 đơn vị hành chính trực thuộc: Bạch Lưu, Hải Lựu, Đôn Nhân, Quang Yên, Lãng Công, Nhân Đạo, Phương Khoan, Đồng Quế, Nhạo Sơn, Tân Lập, Như Thụy, Yên Thạch, Tứ Yên, Đồng Thịnh, Đức Bác, Cao Phong và Thị trấn Tam Sơn. Địa giới hành chính Huyện Sông Lô: phía Đông giáp Huyện Lập Thạch; phía Tây giáp Huyện Phù Ninh, Tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp Thành phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ; phía Bắc giáp Huyện Sơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 150,31 km2; 93.984 nhân khẩu, mật độ dân số 625 (người/km2) gồm các dân tộc anh em: Kinh, Dao, Cao Lan, Sán dìu, Tày, Nùng, Hoa cùng sinh sống. Tình hình an ninh chính trị của huyện ổn định, các dân tộc trong huyện đan xen chung sống, hòa đồng cùng làm ăn, cùng phát triển.
Tân Lập là xã miền núi, nằm ở phía đông của Huyện Sông Lô, có vị trí địa lý rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Phía Tây giáp Xã Nhạo Sơn và Thị trấn Tam Sơn; phía Nam giáp Xã Yên Thạch và Xã Như Thụy; phía Bắc giáp Xã Đồng Quế; phía Nam giáp Xã Vân Trục, Thị trấn Lập Thạch và Xã Xuân Hòa - Huyện Lập Thạch. Có tổng diện tích tự nhiên 723,87 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm 48,87 ha. Điều kiện kinh tế xã hội Xã có địa bàn rộng, đời sống của nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, do đó xã có thế mạnh phát triển trang trại trồng trọt, chăn nuôi.
Địa phương có các sản phẩm nổi bật như cam, bưởi, miến dong, gà đồi… Tuy nhiên điều kiện phát triển kinh tế còn chậm, trình độ dân trí chưa đồng đều. - Thuận lợi: Huyện Sông Lô có truyền thống cách mạng lâu đời, người dân cần cù chịu khó, thông minh, có nhiều di tích lịch sử gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Sông Lô có thế mạnh về phát triển kinh tế nông lâm kết hợp, có giao thông đường thuỷ trải dài ven sông Lô thuận lợi cho việc khai thác nguyên liệu xây dựng và vận chuyển hàng hoá, giao lưu thông thương giữa các vùng miền thuận tiện - Khó khăn: Là một huyện miền núi mới được thành lập còn rất nhiều khó khăn về mọi mặt như: đường giao thông đi lại chưa thuận lợi, xa trung tâm tỉnh lỵ, có nhiều xã miền núi khó khăn, cơ sở hạ tầng từ huyện đến xã còn nhiều bất cập. Đội ngũ cán bộ của các phòng, ban, cơ quan còn thiếu, là vùng đất thiên tai luôn rình rập và thường xuyên xảy ra bão lốc, mưa úng, … 2.
Điều kiện cơ sở vật chất của trại Là một trang trại mới được xây dựng và được đưa vào sử dụng từ năm 2017 nhưng trang trại đã được đầu tư khá hiện đại về cơ sở vật chất cũng như công tác phòng chống dịch bệnh. Điều này thể hiện qua việc trại đã có đủ cơ sở vật chất, công tác an toàn sinh học được chú trọng thông qua việc phun sát trùng các đồ dùng, phương tiện vận chuyển ra và vào trại. Đồng thời công tác chăn nuôi và thú y luôn được theo dõi, thực hiện và triển khai đúng, đủ và chính xác do đó chất lượng sức khỏe của đàn gà trong trại luôn được đảm bảo. m 5 Trang trại có diện tích khoảng 1 ha, chia thành hai khu: khu sinh hoạt và khu chăn nuôi.
Khu sinh hoạt bao gồm: sảnh tiếp khách; 02 phòng ngủ; 01 phòng tắm; 1 phòng bếp. Khu chăn nuôi gồm: 01 kho thức ăn; 01 kho vật tư; 02 chuồng gà. Trang trại nằm xa khu dân cư, có 1 cổng vào. Tổng diện tích chuồng gà khoảng 1700 m2, chia 2 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi có chiều dài 50 m, chiều rộng 12 m; Mỗi chuồng gồm 3 đường nước uống, 4 dãy máng ăn, 5 quạt công nghiệp; Nền chuồng bằng bê tông và mái lợp bằng tôn có trần bằng lớp bạt lạnh dưới mái tôn; Hệ thống đường điện chiếu sáng lắp chạy dọc theo đường ăn.
Trang trại còn có một số dụng cụ thiết bị khác: bạt che, khung úm, máy xịt rửa, máy phát điện.; Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan, và có bồn nước công nghiệp để chứa; Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha và có hệ thống cảnh báo mất điện. Cơ cấu tổ chức của trại Đội ngũ quản lý, kỹ thuật, công nhân gồm: + Chủ trang trại: chị Nguyễn Hải An + 01 kĩ sư + 02 sinh viên thực tập Trong quá trình thực tập tại cơ sở, chủ trang trại tạo điều kiện cho chỗ ở và sinh hoạt rất đầy đủ và thoải mái. Công tác chăn nuôi thú y Trang trại nuôi gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam. Nguồn thuốc, thức ăn, con giống, vaccine đều do Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp.
Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học 2. Một số đặc điểm của giống gà Chọi lai Mía nuôi tại trang trại Gà của Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP được tạo ra do hai loại gà giống: bố là gà Chọi Bình Định và mẹ là gà Mía. Giống gà Chọi lai Mía với tỷ lệ máu chọi ~50%, bố là gà chọi thuần.
Con bố và con mẹ được thụ tinh nhân tạo và chọn lọc rất cẩn thận cho nên những con gà con tại luôn được đánh giá cao về tỉ lệ đồng đều cũng như tỉ lệ sống của chúng đạt rất cao. Gà lai chọi là giống gà thích nghi tốt với hầu hết điều kiện các địa phương của Việt Nam. Kể cả thời tiết nắng nóng cũng không ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn gà. Chúng có khá nhiều đặc điểm nổi bật với bộ lông ốp mượt mà, mào nụ, lông màu đỏ tía, chân cao và vàng, lông đuôi dài.
Tăng trưởng nhanh, đầu ra ổn định và đặc biệt là giá bán cao hơn tất cả các giống gà thương phẩm đang được nuôi tại Việt Nam. Chất lượng thịt của giống gà này là rất ngon, thịt màu vàng nhạt, xương to, thịt chắc, thơm, vị ngon đậm. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá.
Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm. Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác. - Tiêu hóa ở miệng: Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng. Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp m 7 nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác ý nghĩa kém hơn.
Thiếu ánh sáng gà ăn kém. Tuyến nước bọt kém phát triển. Nước bọt không chứa enzym, chỉ để dính bọc làm trơn thức ăn di chuyển vào thực quản. Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày.
Tuyến nhầy của thực quản tiết dịch nhầy làm thức ăn di chuyển dễ dàng. - Tiêu hóa ở diều: Ở diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hoá từng phần do các men thức ăn và vi khuẩn trong thức ăn thực vật. Thức ăn cứng lưu lại diều lâu hơn. Khi thức ăn hạt và nước tỷ lệ bằng 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 - 6 giờ.
Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 - 5,8.