Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao. Nghề chăn nuôi gia cầm của nước ta đã có lịch sử rất lâu đời chiếm vị trí quan trọng trong nghành chăn nuôi của Việt Nam. Chăn nuôi gia cầm cung cấp thực phẩm cho con người, đồng thời cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một phần sản phẩm của nó là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi gia cầm đã giúp cho người dân tăng thêm nguồn thực phẩm tự cung, tự cấp và góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân.
Theo số liệu điều tra vào tháng 1/4/2018 của Tổng cục Thống kê, đàn gia cầm cả nước đã đạt khoảng 386,1 triệu con, tăng 5,9% so với cùng thời điểm năm 2017, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 103 triệu tấn, tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 16,2% so với cùng thời điểm năm 2017. Một số tỉnh có sản lượng trứng gia cầm lớn tăng cao là: Thái Nguyên tăng 33,04%, Bắc Giang tăng 15,2%, Phú Thọ tăng 41,58%, Thanh Hóa tăng 14,86%, Hà Tĩnh tăng 19,48%, Bình Định 27,81%, Lâm Đồng tăng 18,23%, Long An tăng 26,97%, Tiền Giang tăng 20,47% và Sóc Trăng tăng 38,99%. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm.
Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD,… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số h 2 lượng và chất lượng đàn gà. Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp. Bên cạnh đó xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về thực phẩm như thịt, trứng. ngày càng cao vì vậy các nhà chăn nuôi gia cầm phải không ngừng áp dụng những tiến bộ vào quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gia cầm góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại trại gà của ông Nguyễn Văn Tiến, thị trấn Trại Cau, Đồng Hỷ, Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt. - Biết được lịch phòng bệnh trên gà thịt.
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại trang trại của ông Nguyễn Văn Tiến, thị trấn Trại Cau, Đồng Hỷ, Thái Nguyên - Đưa ra phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt. Yêu cầu của chuyên đề - Nắm được các đặc điểm về sinh lý, dinh dưỡng ở gà thịt. - Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt. - Biết cách phòng bệnh, cách chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà.
h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.1 Điều kiện tự nhiên Đồng Hỷ là một huyện lớn có diện tích tự nhiên: 427,73. Dân số: trên 10 vạn người, gồm có 15 xã: Cây Thị, Hóa Thượng, Hóa Trung, Hòa Bình, Hợp Tiến, Khe Mo, Minh Lập, Nam Hòa, Quang Sơn, Tân Lợi, Tân Long, Văn Hán, Văn Lăng và 2 thị trấn: Trại Cau, Sông Cầu. Địa hình đất đai: huyện Đồng Hỷ thuộc vùng trung du Bắc Bộ, có đồi núi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22°C, vào mùa hè, tiết trời nóng bức, nhiệt độ trung bình từ 25 - 27°C, mùa đông tiết trời giá lạnh, ít mưa, nhiệt độ dao động từ 12 - 15°C. Độ ẩm trung bình năm 85,1%, tháng cao nhất là 91%, tháng thấp nhất là 78%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1577 mm, tháng lớn nhất là 305 mm, tháng nhỏ nhất 24 mm. Khí hậu tại Thái Nguyên mang đậm tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa, kiểu thời tiết đặc trưng ở miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh khô.
Tuy nhiên, so với Hà Nội thì khí hậu tại đây luôn nhỏ hơn, do các khối khí nóng ẩm từ biển thổi vào, chính vì thế mùa hè mát hơn và mùa đông thì lạnh hơn. Điều kiện kinh tế xã hội của thị trấn Trại Cau Những năm gần đây, kinh tế của huyện Đồng Hỷ tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa dạng về nghành nghề và nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có. Trên cơ sở đó, h 4 nhanh chóng xác định các nghành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp. Chăn nuôi gia súc, gia cầm được chú trọng, đàn lợn, gia cầm tăng theo hướng sản suất hàng hóa, phát triển mạnh về số lượng và quy mô.
Bên cạnh chăn nuôi, huyện đã tiến hành quy hoạch các vùng nuôi trồng thủy sản, lập các dự án nuôi tập trung theo phương pháp bán thâm canh và công nghiệp. Có thể nói, bức tranh kinh tế Đồng Hỷ trong giai đoạn gần đây đã có những gam màu sáng, hoạt động kinh tế sôi động hơn đã mang lại hơi thở mới trong cuộc sống của người dân nơi đây. Đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Đồng Hỷ được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp chăm lo đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa giáo dục. Người dân chủ yếu là làm tại các nhà máy trên địa bàn huyện và các cơ quan hành chính Nhà nước, số còn lại trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi tại địa phương dân số và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
Điều kiện cơ sở vật chất của trại Trang trại được xây dựng từ năm 2016. Là trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất, đường sá đang dần được cải thiện. - Diện tích chuồng trại là 1000 m2 (1 chuồng, 1 tầng). - Gồm 1 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 3.
- Mỗi chuồng có chiều dài 30 m, chiều rộng 15 m, chiều cao 2,7 m. - Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh và lắp 2 camera theo dõi quanh khu vực trại. - Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh. - Trang trại gồm 2 chuồng cách nhau 30 mét, mỗi chuồng gồm có 1 tầng.
- Hệ thống máng ăn được lắp đặt và sử dụng thủ công, toàn bộ là sử dụng sức lao động của con người. Trại sử dụng máng uống nước tự động, chuồng gồm h 5 5 dãy máng ăn và 4 đường nước uống. Nền trại là bê tông, mái được lợp bằng tấm lợp fibro xi măng có một lớp chấu dày 5 - 7 cm để cách nhiệt. - Có 1 kho cám, 1 máy phát điện, mỗi chuồng có 6 cái quạt.
- Chuồng chưa lắp đạt nhiệt kế theo dõi nhiệt độ chuồng - Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan công nghiệp. - Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại tổ chức như sau: - Đội ngũ cán bộ, quản lý, kỹ thuật, công nhân gồm: 01 chủ trại (kỹ sư) 01 sinh viên thực tập 2. Thuận lợi, khó khăn 2.
Thuận lợi - Trại được xây dựng xa khu dân cư, giao thông thuận tiện. - Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. - Trong đợt thực tập tại cơ sở sinh viên đã được học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi và phòng trị một số bệnh trên thường thấy trên đàn gà thịt - Sinh viên và công nhân tại trại được bố trí chỗ ở và sinh hoạt theo gia đình chủ trại. - Đội ngũ công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công việc.
- Trại có quy mô lớn cùng với đó trại đã áp dụng các công nghệ tiên tiến hiện đại vào chăn nuôi nên rất phù hợp với chăn nuôi công nghiệp hiện nay. Khó khăn - Khi mô hình chăn nuôi gà thả vườn phát triển mạnh mẽ và trở thành một nghề chuyên nghiệp với quy mô, số lượng ngày một lớn cũng là lúc các loại dịch bệnh ngày càng phức tạp, khó lường hơn. - Do thân nhiệt của gà cao, đang chăn thả gặp phải trời mưa lạnh, nhiệt độ thay đổi đột ngột nên dễ bị bệnh. - Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao, gây ảnh hưởng không nhỏ tới chăn nuôi của trang trại và các hộ chăn nuôi thuộc hợp tác xã.
Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học 2. Một số đặc điểm của gà Ri L + Gà có thân hình vững chắc, hướng thân thịt, chân, da vàng, lườn ức dày, thịt săn thơm ngon như gà ta nguyên thủy, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. + Độ đồng đều và sức đề kháng cao.
Thích nghi khí hậu mọi vùng miền. * Chỉ tiếu kinh tế, kỹ thuật: + Thời gian sinh trưởng: 105 ngày. Tỷ lệ nuôi sống 98 - 99%. Trọng lượng bình quân: 1,8 - 2,8 kg/con.
Tiêu tốn thức ăn từ 2,7 - 2,9 kg cho 1kg tăng trọng. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm.
Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác. Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có h 7 hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt Nam, (2001) [4]).