Đặt vấn đề Nước ta là một nước nông nghiệp, trong đó ngành chăn nuôi chiếm phần lớn trong nước. Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, vì đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến. Việt Nam là một trong những nước nuôi nhiều lợn. Theo số liệu thống kê, Việt Nam có số đầu lợn đứng hàng thứ 7 trên thế giới, sau các nước: Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Đức, Ba Lan và Tây Ban Nha, đứng hàng đầu các nước Đông Nam Á và đứng thứ hai ở châu Á.
Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn của nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Phương thức chăn nuôi lợn đã chuyển dịch theo hướng tích cực từ chăn nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình là chủ yếu, nay chuyển dần sang chăn nuôi lợn theo quy mô gia trại và trang trại. Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng thịt lợn, bên cạnh chăn nuôi các giống lợn nội, chúng ta đã nhập nhiều giống lợn ngoại về để lại tạo với giống lợn nội và nuôi thuần. Do vậy, rất nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô từ vài trăm lợn nái đến vài nghìn lợn nái đã phát triển ở khắp nơi trong cả nước.
Để chăn nuôi lợn ngoại đạt hiệu quả cao, bên cạnh các yếu tố về thức ăn, chuồng trại, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng bệnh thì một trong những yếu tố hết sức quan trọng cần được đảm bảo là phải có con giống tốt. Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại. 2 Các trại chăn nuôi lợn nái ngoại của nước ta hiện nay là để sản xuất ra lợn thịt thương phẩm, nhưng công tác đánh giá khả năng sản xuất của giống, dòng lợn nái ngoại tại các trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại vẫn chưa được thường xuyên và liên tục. Để có con giống tốt cung cấp cho sản xuất thì việc chọn lọc và nuôi dưỡng tốt đàn lợn nhập ngoại tại các cơ sở, các trại giống là rất quan trọng.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em đã thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học công ty TNHH MTV chăn nuôi Hòa Yên, xã Lương Thịnh - huyện Trấn Yên - tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu của chuyên đề Tìm hiểu quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại chăn nuôi lợn an toàm sinh học công ty TNHH MTV chăn nuôi Hòa Yên. Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghệm thực tế.
Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi. Yêu cầu của chuyên đề Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học công ty TNHH MTV chăn nuôi Hòa Yên. Áp dụng các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại cơ sở. Đưa ra kết quả về tỷ lệ mắc bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và phác đồ điều trị bệnh hiệu quả.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trang trại Trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học công ty TNHH MTV chăn nuôi Hòa Yên nằm gần khe núi thuộc xã Lương Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Trại`có vị trí địa lý hết sức thuận lợi nằm ở phía đông nam tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp huyện Văn Yên, phía tây giáp huyện Văn Chấn, phía đông giáp tỉnh Phú Thọ, phía đông giáp huyện Yên Bình.
Huyện Trấn Yên có tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai chạy ngang qua. Vùng nuôi này cách xa các khu dân cư về mặt phòng dịch bệnh thì rất tốt vì địa hình rừng núi “ nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Khu này chỉ có một đường vào với diện tích vùng nuôi của Tập đoàn Hòa Phát rộng 44 ha. Cơ cấu tổ chức của trang trại • Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm: + Nhóm quản lý bao gồm 1 chủ trại phụ trách chung, 5 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại.
+ Nhóm kỹ thuật bao gồm 8 kỹ sư, 4 kỹ thuật điện, 2 kế toán phụ trách chuyên môn. + Nhóm công nhân bao gồm 10 công nhân, 12 sinh viên thực tập thực hiện công việc chuyên môn. Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu, tổ cai sữa, tổ chuồng thịt, tổ chuồng đực và phòng pha chế tinh. Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc quản lý chung các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trại.
Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại chăn nuôi Hòa Yên có tổng diện tích là 44ha nằm trên địa bàn xã Lương Thịnh, có địa hình vô cùng thuận lợi thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển, Khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 1200 nái gồm: 1 chuồng đực, 1 chuồng phát triển hậu bị, 2 chuồng phối, 2 chuồng mang thai, 6 chuồng đẻ và 8 chuồng cai sữa. Phòng pha tinh (lab) có các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, hệ thống cảm biến nhiệt, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác. Trong khu chăn nuôi đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có chậu nước sát trùng trước cửa chuồng. Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm rồi vào hệ thống biogas.
Xung quanh trại còn trồng rau, cây ăn quả, đào ao thả cá tạo môi trường thông thoáng. Tình hình sản xuất của trang trại - Công tác chăn nuôi Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hiện nay trong trại có 28 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai thác từ 3 giống lợn cụ kị Landrace, Yorkshire, Duroc.
Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực. Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi Hòa Phát Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại. - Công tác vệ sinh thú y của trại Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng và nó có tác dụng tăng sức đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những 5 bệnh có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống. - Công tác vệ sinh Chuồng trại được xây dựng theo hệ thống chuồng kín, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông được hệ thống điều khiển về nhiệt độ, độ thông thoáng giúp cho vật nuôi phát triển trong môi trường sạch an toàn nhất, xung quanh các chuồng nuôi đều có hàng rào bảo vệ, che chắn, côn trùng, cóc, chuột… không thể vào chuồng.
Trước cửa vào các khu có rắc vôi bột từ đó hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài đối với lợn nuôi trong chuồng. Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định. Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động. - Công tác chọn giống Các tính trạng cần chọn lọc gồm: Tính trạng ngoại hình: Đặc điểm đặc trưng của giống, đầu cổ, thân lưng, mông vai, bụng, chân móng, vú, âm hộ, lông da.
Tính trạng sinh trưởng: FCR, ADG, số ngày nuôi đạt 140 kg, tính trạng sinh sản: số con sinh ra sống, số con cai sữa, trọng lượng cai sữa. Tính trạng sức khoẻ: không có bệnh truyền nhiễm mãn tính. Yêu cầu đối với lợn giống Số vú chức năng không thấp hơn 14, khoảng cách vú đều nhau, không có vú kẹ lép, chân móng chắc khoẻ, tròn đều, không đi bàn. Ngoại hình cân đối, dáng đi uyển chuyển lông da bóng mượt, hồng hào và trọng lượng phù hợp với tuần tuổi.
Yêu cầu đối với lợn giống Tuần tuổi Trọng lượng (kg) Tăng trọng (gram/ngày) 11 30 15 50 750 19 75 850 23 93 650 27 111 650 31 130 650 35 150 650 Chỉ số di truyền (index) không thấp hơn 100, độ dày mỡ lưng khi đưa lên phối 16 – 18 mm. Số lượng chọn và tỷ lệ loại thải Giai đoạn Tỷ lệ loại (%) Số con được chọn trung bình /lứa/nái Sơ sinh 7,0 Cai sữa 30 4,2 – 4,9 30 kg 2,5 – 6,0 4,0 – 4,8 60 kg 1,7 – 4,0 3,8 – 4,7 100 kg 1,7 – 4,0 3,7 – 4,6 Phối giống 13,5 – 23 2,8 – 4,0 Mục tiêu chọn dòng GP và dòng GGP đạt 5 – 6 con/nái/năm, dòng PS đạt 7 – 8 con/nái/năm. Chọn lọc lần 1 lúc lợn mới sinh, chọn dựa vào lý lịch của bố mẹ, anh chị em như số con cai sữa không thấp hơn 10 con, chỉ chọn từ những ổ của nái lứa 1, 2 và 3, trọng lượng cai sữa trung bình ở 28 ngày không thấp hơn 6,5 kg. 7 Chọn dựa vào cá thể được đánh giá: chọn từ ổ đẻ không dưới 12 con, số vú không ít hơn 14.
Trọng lượng sơ sinh không thấp hơn 1,1 kg, săm tai với những lợn được chọn. Dán băng dính y tế lên vú lợn con mục đích bảo vệ, bóc ra sau 3 – 4 ngày. Chọc lọc lần 2 lúc lợn cai sữa, trọng lượng cai sữa không thấp hơn 6,5 kg ở 28 ngày tuổi, chỉ số di truyền (index) không thấp hơn 100. Số vú chức năng không ít hơn 14, chân thẳng, không dị tật, móng chân bằng phẳng, tròn đều, không đi bàn.