Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi lợn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam, là nguồn cung ứng thực phẩm chủ lực, cung cấp phân bón cho trồng trọt, nguyên liệu khí sinh học (biogas) và các phụ phẩm cho công nghiệp chế biến. Trong chuỗi kỹ thuật chăn nuôi lợn, phân khâu quản lý đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ đóng vai trò quyết định đến năng suất đàn con thương phẩm, tỷ lệ nạc và hiệu quả kinh tế của toàn bộ trang trại. Việc chuẩn hóa quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm nâng cao số con sơ sinh còn sống, khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa là yêu cầu cốt lõi tại các cơ sở chăn nuôi quy mô công nghiệp.
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Chăn nuôi Thú y của tác giả Lưu Thị Nhung (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thu Trang) được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nắm vững và thực hiện đúng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái trong giai đoạn đẻ và giai đoạn nuôi con theo tiêu chuẩn kỹ thuật công nghiệp.
- Trau dồi kiến thức thực tế, tích lũy kinh nghiệm chuyên môn về chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị các bệnh sinh sản ở nái cũng như bệnh truyền nhiễm, nội khoa ở lợn con.
- Đánh giá các chỉ tiêu năng suất sinh sản thực tế của đàn lợn nái ngoại CP 909, góp phần giúp cơ sở chăn nuôi hoàn thiện quy trình kỹ thuật, nâng cao năng suất và chất lượng đàn giống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản (gồm lợn nái hậu bị và lợn nái dạ) cùng đàn lợn con từ sơ sinh đến giai đoạn cai sữa (dòng lợn ngoại CP 909 – tổ hợp lai giữa Landrace và Yorkshire).
- Không gian nghiên cứu: Trại chăn nuôi lợn nái ngoại thuộc Công ty Cổ phần Bình Minh, đặt tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Đây là trang trại gia công của Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam (CP Việt Nam), vận hành theo phương thức chủ trại đầu tư cơ sở hạ tầng, CP Việt Nam cung cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật giám sát.
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu thực tế được theo dõi và thu thập liên tục trong 6 tháng, từ ngày 18/05/2016 đến ngày 18/11/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết chuyên sâu thuộc chuyên ngành chăn nuôi thú y, kết hợp các phương pháp theo dõi thực nghiệm và xử lý số liệu sinh học:
Khung lý thuyết và cơ sở khoa học:
- Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa: Phân kỳ chu kỳ mang thai bình quân 114 ngày thành hai giai đoạn (chửa kỳ 1: từ ngày 1 đến 84 ngày; chửa kỳ 2: từ ngày 85 đến khi đẻ). Ứng dụng quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai theo học thuyết G.Smit (1954) chia làm 3 giai đoạn: phôi thai (1–22 ngày), tiền thai (23–38 ngày) và thai nhi (từ ngày 39 đến khi đẻ). Xác định nhu cầu dinh dưỡng nái chửa với khẩu phần đạt mức năng lượng trao đổi $\ge 2.900\text{ kcal/kg}$ và tỷ lệ protein thô 13–14%. Phương pháp chẩn đoán có thai dựa trên chu kỳ động dục 21 ngày, phân biệt các hiện tượng bệnh lý như động dục giả và chửa giả do thể vàng buồng trứng tồn lưu.
- Bệnh học sinh sản ở nái và sinh lý tiết sữa: Nghiên cứu hội chứng MMA (Agalacti – Mastitis – Metritis) theo Trung tâm Chẩn đoán và Cố vấn Thú y (2010); cơ chế bệnh sinh bệnh viêm tử cung theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002), Phạm Sỹ Lăng và cs. (2002), Đoàn Kim Dung và cs. (2002); bệnh viêm vú theo Trần Minh Châu (1996), Ngô Nhật Thắng (2006); bệnh sót nhau theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2014), Trịnh Đình Thâu và cs. (2010). Cơ chế tiết sữa của nái dựa trên phản xạ thần kinh – thể dịch thông qua hormone oxytocin từ tuyến yên, mỗi lần tiết sữa kéo dài 25–30 giây với tần suất 20–25 lần/ngày ở giai đoạn đầu.
- Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ: Khắc phục 3 giai đoạn khủng hoảng sinh lý của lợn con (sơ sinh đến 1 tuần tuổi, giai đoạn 3 tuần tuổi do sữa mẹ giảm trong khi nhu cầu tăng, và giai đoạn cai sữa lúc 21 ngày tuổi). Kỹ thuật cho bú sữa đầu trong 24 giờ đầu để nhận kháng thể $\gamma\text{-globulin}$ và ion $\text{Mg}^{2+}$, tiêm bổ sung sắt ($\text{Dexran-Fe}$) 200 mg/con để phòng thiếu máu, và tập ăn sớm từ 5 ngày tuổi bằng thức ăn tập ăn dạng mảnh.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp theo dõi trực tiếp: Trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con tại các dãy chuồng kín; theo dõi quá trình đỡ đẻ, can thiệp đẻ khó; thực hiện các thao tác thú y như bấm nanh, cắt đuôi, bấm số tai, tiêm sắt, thiến hoạn; chẩn đoán lâm sàng và áp dụng các phác đồ điều trị bệnh.
- Quy mô mẫu khảo sát: Theo dõi tiến trình đẻ trên toàn bộ 317 lợn nái (195 nái sinh sản và 122 nái hậu bị); theo dõi chi tiết các chỉ tiêu số lượng và khối lượng trên 10 đàn nái CP 909 với tổng số 105 lợn con ở các mốc: sơ sinh, 21 ngày tuổi và cai sữa; ghi nhận công tác tiêm phòng vaccine và phòng bệnh trên 2.110 – 2.567 lượt lợn con; theo dõi điều trị trên 56 ca nái viêm tử cung và 4 ca nái viêm vú.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thô được tổng hợp và phân tích theo phương pháp thống kê sinh vật học trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện (2008), sử dụng phần mềm thống kê Minitab 14. Các tham số tính toán gồm: giá trị trung bình ($\bar{X}$), sai số chuẩn ($m_{\bar{x}}$), hệ số biến thiên ($Cv%$), tỷ lệ nuôi sống đến 24 giờ, tỷ lệ sống đến cai sữa, tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ khỏi bệnh.
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu sơ cấp: Số liệu ghi chép từ thẻ nái gắn tại ô chuồng, sổ theo dõi sinh sản, cân trực tiếp lợn con và sổ nhật ký điều trị thú y tại Trại Bình Minh trong giai đoạn 18/05/2016 – 18/11/2016.
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kết quả chăn nuôi 3 năm (2014 – 2016) của cơ sở thực tập; các định mức dinh dưỡng, quy trình an toàn sinh học và tiêu chuẩn kỹ thuật do Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam ban hành.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam, nhấn mạnh vai trò quyết định của công tác chăn nuôi lợn nái sinh sản và nuôi dưỡng đàn lợn con theo mẹ trong việc cung cấp con giống chất lượng cao cho khâu nuôi thịt thương phẩm. Chương này xác định rõ 3 mục tiêu cụ thể và các yêu cầu kỹ thuật cần đạt được trong đợt thực tập tốt nghiệp.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Nội dung chương tổng quan gồm hai mảng lớn:
- Điều kiện cơ sở thực tập: Giới thiệu lịch sử thành lập từ năm 2008 của Trại lợn Bình Minh tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội; diện tích 0,5 ha cho khu điều hành và phụ trợ; quy mô chuồng trại gồm 9 chuồng lợn thịt (5.400 con) và hệ thống cho 1.200 lợn nái (6 chuồng lợn đẻ gồm 56 ô/chuồng kích thước $2,4\text{m} \times 1,6\text{m}$; 2 chuồng nái chửa gồm 560 ô/chuồng kích thước $2,4\text{m} \times 0,65\text{m}$; 3 chuồng cách ly; 1 chuồng đực giống). Hệ thống chuồng trại khép kín có giàn mát, quạt hút gió và hệ thống chống nóng trần. Cơ cấu nhân sự gồm 1 chủ trại, 1 bảo vệ, 7 công nhân, 19 sinh viên thực tập và cán bộ kỹ thuật CP giám sát. Quy mô đàn biến động qua 3 năm: đàn đực giống tăng từ 15 con (2014) lên 24 con (2016); đàn nái hậu bị tăng từ 59 con lên 159 con; đàn nái sinh sản tăng từ 1.149 con lên 1.163 con; tổng đàn tăng từ 1.223 con lên 1.346 con.
- Cơ sở khoa học và tổng quan tài liệu: Trình bày chi tiết cơ sở sinh lý sinh sản, kỹ thuật nuôi dưỡng nái chửa, nái đẻ, nuôi con, sinh lý tiết sữa và các thời kỳ khủng hoảng của lợn con. Tổng thuật các nghiên cứu trong nước (Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Xuân Bình, Trần Tiến Dũng, Phạm Hữu Doanh, Đoàn Kim Dung, Trần Văn Phùng) và quốc tế (Urban, Gajecki, Smith, Taylor, Winson, Pierre Brouillet & Bernard Faroult, Trekaxova A.) về nguyên nhân, triệu chứng và phác đồ điều trị các bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành
Xác định đối tượng là lợn nái sinh sản và lợn con từ sơ sinh đến cai sữa tại Trại Bình Minh trong khung thời gian từ 18/05/2016 đến 18/11/2016. Quy định rõ 5 nội dung tiến hành chính, các chỉ tiêu theo dõi về số lượng, khối lượng, tình hình đẻ khó, tỷ lệ cảm nhiễm bệnh sinh sản ở nái và bệnh ở lợn con. Đưa ra các công thức toán học tính tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ điều trị khỏi bệnh trên nền tảng phần mềm Minitab 14.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Đây là chương nội dung trọng tâm, phản ánh toàn bộ số liệu thực nghiệm và kết quả thực hiện quy trình tại trại:
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng: Thiết lập định mức cho ăn chi tiết theo từng giai đoạn. Nái hậu bị ăn 2,4 kg/con/ngày (cám 567SF); nái chửa kỳ 1 ăn 1,6 – 2,5 kg/con/ngày (cám 566SF); nái chửa kỳ 2 ăn 2,2 – 2,5 kg/con/ngày (cám 567SF). Áp dụng bảng định mức thức ăn nghiêm ngặt trước và sau khi đẻ (giảm dần thức ăn từ 2,5 kg trước đẻ 4 ngày xuống 0,5 kg trong ngày đẻ, sau đó tăng dần lên 5,0 kg/ngày vào ngày thứ 5 sau đẻ). Lợn con được cho tập ăn từ 4–5 ngày tuổi với định mức ban đầu 10 g/con/ngày.
- Tình hình đẻ của đàn lợn nái: Khảo sát 317 lợn nái cho thấy 281 con đẻ bình thường (88,64%), 35 con đẻ khó phải can thiệp kích tố oxytocin (11,04%) và 11 con phải can thiệp bằng tay (3,47%). Trong đó, nái sinh sản có tỷ lệ đẻ bình thường cao hơn nái hậu bị (91,79% so với 83,60%).
- Chỉ tiêu số lượng và khối lượng lợn con (n = 105): Số con đẻ ra/lứa đạt $10,05 \pm 0,373$ con; số con sống đến 24 giờ đạt $10,02 \pm 0,327$ con; số con sống đến cai sữa đạt $10,00 \pm 0,298$ con. Khối lượng sơ sinh/con đạt $1,75 \pm 0,01\text{ kg}$; khối lượng sơ sinh/ổ đạt $18,39 \pm 0,49\text{ kg}$; khối lượng cai sữa/con (lúc 21 ngày) đạt $6,09 \pm 0,07\text{ kg}$; khối lượng cai sữa/ổ đạt $60,98 \pm 2,74\text{ kg}$.
- Công tác vệ sinh phòng bệnh và vaccine: Thực hiện nghiêm ngặt lịch sát trùng tuần tại chuồng đẻ, chuồng chửa, chuồng cách ly và khu vực xung quanh trại bằng Omnicide, vôi bột, vôi xút gầm chuồng. Tiêm phòng vaccine đầy đủ cho lợn con (Dịch tả, LMLM, Suyễn, Tụ huyết trùng, Cầu trùng, Tiêm sắt) đạt quy mô 2.110 – 2.567 lượt con với tỷ lệ an toàn 100%. Lợn nái chửa được tiêm Colisuin CL phòng tiêu chảy do E. coli và Clostridium trước đẻ 2 tuần, cùng vaccine PRRS, PV, AD, SF, FMD theo lịch tuần chửa.
- Chẩn đoán và điều trị bệnh: Điều trị bệnh viêm tử cung trên 56 lợn nái bằng phác đồ thụt rửa nước muối sinh lý kết hợp tiêm bắp Amoxinject, Oxytocin, Analgin và Vitamin B1, đạt tỷ lệ khỏi 94,64% (52/56 con). Điều trị bệnh viêm vú trên 4 lợn nái bằng phong bế Novocain, chườm lạnh, tiêm Nor 100 quanh vú kết hợp Vetrimoxin LA và Analgin toàn thân, đạt tỷ lệ khỏi 100% (4/4 con). Mô tả chi tiết nguyên nhân, triệu chứng và quy trình xử lý ngoại khoa đối với bệnh sót nhau ở nái.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đánh giá tổng thể hiệu quả thực hiện quy trình kỹ thuật tại cơ sở, khẳng định việc áp dụng đúng quy chuẩn dinh dưỡng, an toàn sinh học và thú y lâm sàng đã đem lại năng suất sinh sản cao cho đàn nái CP 909. Đưa ra các đề nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý đỡ đẻ, giảm thiểu can thiệp tay ở nái hậu bị và nâng cao điều kiện vệ sinh phòng dịch.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã ghi nhận và lượng hóa toàn bộ các chỉ tiêu kỹ thuật thực nghiệm thông qua các bảng số liệu cụ thể:
Bảng 1: Biến động quy mô đàn lợn tại Trại Bình Minh giai đoạn 2014 – 2016
| STT |
Loại lợn |
Năm 2014 (con) |
Năm 2015 (con) |
Năm 2016 (con) |
| 1 |
Lợn đực giống |
15 |
21 |
24 |
| 2 |
Lợn nái hậu bị |
59 |
60 |
159 |
| 3 |
Lợn nái sinh sản |
1.149 |
1.150 |
1.163 |
| Tổng |
Tổng đàn |
1.223 |
1.231 |
1.346 |
Bảng 2: Quy định khẩu phần thức ăn cho nái trước và sau khi đẻ (kg/con/ngày)
| Thời điểm |
Nái sinh sản (kg) |
Nái hậu bị (kg) |
| Trước đẻ 4 ngày |
2,5 |
2,2 |
| Trước đẻ 3 ngày |
2,2 |
2,0 |
| Trước đẻ 2 ngày |
2,0 |
1,7 |
| Trước đẻ 1 ngày |
1,5 |
1,5 |
| Ngày đẻ |
0,5 |
1,0 |
| Sau đẻ 1 ngày |
1,0 |
1,0 |
| Sau đẻ 2 ngày |
2,0 |
2,0 |
| Sau đẻ 3 ngày |
3,0 |
3,0 |
| Sau đẻ 4 ngày |
4,0 |
4,0 |
| Sau đẻ 5 ngày |
5,0 |
5,0 |
Bảng 3: Tình hình đẻ và phương thức can thiệp trên 317 lợn nái
| Giống lợn |
Số theo dõi (con) |
Đẻ bình thường (con) |
Tỷ lệ (%) |
Can thiệp kích tố (con) |
Tỷ lệ (%) |
Can thiệp bằng tay (con) |
Tỷ lệ (%) |
| Nái sinh sản (nái dạ) |
195 |
179 |
91,79 |
15 |
7,69 |
4 |
2,05 |
| Nái hậu bị |
122 |
102 |
83,60 |
20 |
16,39 |
7 |
5,74 |
| Tính chung |
317 |
281 |
88,64 |
35 |
11,04 |
11 |
3,47 |
Bảng 4: Các chỉ tiêu số lượng và khối lượng đàn lợn con CP 909 (n = 105)
| STT |
Chỉ tiêu theo dõi |
Đơn vị tính |
Giá trị trung bình ($\bar{X} \pm m_{\bar{x}}$) |
Hệ số biến thiên $Cv$ (%) |
| 1 |
Số con đẻ ra trên lứa |
con |
$10,05 \pm 0,373$ |
11,22 |
| 2 |
Số con còn sống đến 24 giờ |
con |
$10,02 \pm 0,327$ |
10,13 |
| 3 |
Số con còn sống đến cai sữa |
con |
$10,00 \pm 0,298$ |
9,43 |
| 4 |
Khối lượng sơ sinh/ổ |
kg |
$18,39 \pm 0,490$ |
8,52 |
| 5 |
Khối lượng sơ sinh/con |
kg |
$1,75 \pm 0,010$ |
10,77 |
| 6 |
Khối lượng cai sữa/ổ (21 ngày) |
kg |
$60,98 \pm 2,740$ |
14,23 |
| 7 |
Khối lượng cai sữa/con (21 ngày) |
kg |
$6,09 \pm 0,070$ |
11,73 |
Bảng 5: Kết quả công tác phòng bệnh bằng vaccine và bổ sung vi chất cho lợn con
| Nội dung phòng bệnh |
Số lượng thực hiện (con) |
Số con an toàn (con) |
Tỷ lệ an toàn (%) |
| Dịch tả (SF) |
2.340 |
2.340 |
100 |
| Lở mồm long móng (FMD) |
2.230 |
2.230 |
100 |
| Suyễn |
2.130 |
2.130 |
100 |
| Tụ huyết trùng |
2.540 |
2.540 |
100 |
| Cầu trùng (Bay-Coc) |
2.110 |
2.110 |
100 |
| Tiêm sắt (Dexran-Fe) |
2.567 |
2.567 |
100 |
Bảng 6: Kết quả điều trị bệnh sinh sản trên đàn lợn nái
| Tên bệnh |
Số điều trị (con) |
Số khỏi bệnh (con) |
Tỷ lệ khỏi (%) |
Phác đồ điều trị chính |
| Viêm tử cung |
56 |
52 |
94,64 |
Thụt rửa nước muối sinh lý; Amoxinject ($1\text{ triệu UI}/30\text{kg TT}$); Oxytocin ($5\text{ml/con}$); Analgin ($1\text{ml}/10\text{kg TT}$); Vitamin B1 ($5\text{ml}/30\text{kg TT}$). Tiêm bắp 2 lần/ngày trong 3 ngày. |
| Viêm vú |
4 |
4 |
100,00 |
Chườm đá, phong bế Novocain $0,25-0,5%$; tiêm tại chỗ Nor 100 ($1\text{ml}/10\text{kg TT}$); tiêm toàn thân Analgin ($1\text{ml}/10\text{kg TT}$) và Vetrimoxin LA ($1\text{ml}/10\text{kg TT}/48\text{h}$) trong 3–5 ngày. |
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Thực hiện nghiêm ngặt quy trình giảm ăn trước đẻ và nâng khẩu phần đúng lộ trình sau đẻ để phòng ngừa hội chứng viêm vú, tắc tia sữa và rối loạn trao đổi chất ở nái.
- Hạn chế tối đa việc can thiệp bằng tay khi nái đẻ khó, chỉ can thiệp khi đã dùng kích tố không hiệu quả và phải đảm bảo vô trùng tuyệt đối tay cũng như dụng cụ nhằm giảm thiểu tỷ lệ viêm tử cung.
- Đảm bảo 100% lợn con được bú sữa đầu trong 24 giờ đầu, tiến hành úm nhiệt $30-33^\circ\text{C}$, bấm nanh, cắt đuôi cách gốc $2,5\text{ cm}$, tiêm sắt đủ 200 mg và tập ăn sớm từ ngày thứ 5 bằng cám viên chuyên dụng.
Đóng góp so với nghiên cứu trước:
- Khóa luận cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về khả năng sinh sản của dòng lợn nái CP 909 trong điều kiện chuồng kín công nghiệp tại miền Bắc Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu chứng minh dòng lợn CP 909 đạt khối lượng sơ sinh bình quân $1,75\text{ kg/con}$, vượt trội so với giống nái Yorkshire thuần trong nghiên cứu của Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo (2004) đạt $1,24\text{ kg/con}$.
- Khối lượng cai sữa lúc 21 ngày tuổi đạt $6,09\text{ kg/con}$ và khối lượng cai sữa/ổ đạt $60,98\text{ kg}$, cao hơn rõ rệt so với nghiên cứu của Phan Xuân Hảo (2001) trên các giống ngoại thuần ($5,38\text{ kg/con}$ và $41,6\text{ kg/ổ}$ ở lợn Landrace).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được tiến hành trên một cơ sở chăn nuôi gia công duy nhất (Trại lợn Bình Minh) trong khung thời gian 6 tháng; dung lượng mẫu theo dõi khối lượng chi tiết mới tập trung trên 10 đàn lợn nái (105 lợn con); các số liệu về bệnh tiêu chảy và viêm phổi ở lợn con chưa được tổng hợp thành bảng thống kê dịch tễ chi tiết trong báo cáo; nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn cai sữa 21 ngày tuổi, chưa theo dõi tiếp giai đoạn nuôi thịt thương phẩm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô theo dõi trên nhiều lứa đẻ liên tiếp của đàn nái hậu bị để đánh giá tính ổn định sinh sản qua các chu kỳ khai thác; theo dõi các chỉ tiêu tăng trọng và tiêu tốn thức ăn (FCR) của đàn con giai đoạn sau cai sữa đến xuất bán; thử nghiệm so sánh hiệu quả kinh tế của các phác đồ kháng sinh thế hệ mới trong điều trị hội chứng MMA.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi – Thú y, các kỹ thuật viên trang trại và người quản lý cơ sở chăn nuôi lợn công nghiệp.
Các nội dung có giá trị ứng dụng cao gồm:
- Bảng định mức khối lượng thức ăn chi tiết từng ngày trước và sau khi đẻ cho nái sinh sản và nái hậu bị.
- Lịch biểu vệ sinh sát trùng, tiêu độc chuồng trại theo từng thứ trong tuần áp dụng cho các khu chuồng đẻ, chuồng chửa, chuồng cách ly.
- Lịch trình tiêm phòng vaccine và phòng bệnh bằng thuốc cụ thể cho từng nhóm tuần tuổi của lợn con, lợn hậu bị và lợn nái chửa.
- Phác đồ điều trị lâm sàng hiệu quả đối với bệnh viêm tử cung và viêm vú trên đàn lợn nái ngoại.
Câu hỏi thường gặp
1. Khẩu phần ăn của lợn nái tại trại Bình Minh được điều chỉnh cụ thể như thế nào trong ngày đẻ và 5 ngày đầu sau khi đẻ?
Trong ngày đẻ, lợn nái sinh sản chỉ được cho ăn 0,5 kg và nái hậu bị ăn 1,0 kg thức ăn hỗn hợp (567SF), kết hợp cho uống nước tự do. Sau khi đẻ, mức ăn được tăng dần mỗi ngày 1,0 kg: ngày thứ nhất ăn 1,0 kg; ngày thứ hai ăn 2,0 kg; ngày thứ ba ăn 3,0 kg; ngày thứ tư ăn 4,0 kg; và đạt mức 5,0 kg/con/ngày vào ngày thứ năm sau khi đẻ (chia làm 4 bữa: sáng, trưa, chiều, tối).
2. Khối lượng sơ sinh và cai sữa của đàn lợn con CP 909 tại trại đạt bao nhiêu và cao hơn nghiên cứu trước như thế nào?
Khối lượng sơ sinh bình quân đạt $1,75 \pm 0,01\text{ kg/con}$ ($18,39 \pm 0,49\text{ kg/ổ}$), cao hơn so với số liệu của Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo (2004) trên lợn thuần đạt $1,24\text{ kg/con}$. Khối lượng cai sữa lúc 21 ngày tuổi đạt $6,09 \pm 0,07\text{ kg/con}$ ($60,98 \pm 2,74\text{ kg/ổ}$), cao hơn nghiên cứu của Phan Xuân Hảo (2001) đạt $5,38\text{ kg/con}$ và $41,6\text{ kg/ổ}$ ở lợn Landrace.
3. Tỷ lệ đẻ khó và phương thức can thiệp đỡ đẻ trên đàn lợn nái tại trang trại diễn ra như thế nào?
Trên tổng số 317 lợn nái theo dõi, có 281 con đẻ bình thường (88,64%), 35 con phải can thiệp bằng kích tố oxytocin (11,04%) và 11 con phải can thiệp thủ thuật bằng tay (3,47%). Tỷ lệ đẻ khó ở nái hậu bị cao hơn nái sinh sản (nái hậu bị can thiệp kích tố 16,39%, can thiệp tay 5,74%; trong khi nái sinh sản can thiệp kích tố 7,69%, can thiệp tay 2,05%).
4. Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên lợn nái được tác giả áp dụng gồm những loại thuốc nào và đạt hiệu quả ra sao?
Phác đồ gồm thụt rửa tử cung bằng nước muối sinh lý $0,9%$, kết hợp tiêm bắp: Amoxinject ($1\text{ triệu UI}/30\text{kg TT}$), Oxytocin ($5\text{ ml/con}$), Analgin ($1\text{ml}/10\text{kg TT}$) và Vitamin B1 ($5\text{ml}/30\text{kg TT}$), tiêm 2 lần/ngày liên tục trong 3 ngày. Kết quả điều trị khỏi 52/56 con, đạt tỷ lệ khỏi bệnh 94,64%.
5. Quy trình tiêm phòng và bổ sung vi chất cho lợn con theo mẹ tại trang trại được thực hiện vào những ngày tuổi nào?
Lợn con được tiêm sắt Dexran-Fe lúc 1–3 ngày tuổi (2 ml/con); uống Amoxilcol phòng tiêu chảy lúc 1–3 ngày tuổi (2 ml/con); uống Bay-Coc phòng cầu trùng lúc 3–4 ngày tuổi (2 ml/con); tiêm Cicro phòng hội chứng còi cọc lúc 16–18 ngày tuổi (2 ml/con); tiêm vaccine Dịch tả (SF) lúc 21 ngày tuổi (2 ml/con). Ngoài ra, lợn con được tiêm phòng đầy đủ các bệnh lở mồm long móng, suyễn, tụ huyết trùng đạt tỷ lệ an toàn 100%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lưu Thị Nhung đã thực hiện đầy đủ quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản cùng đàn lợn con theo mẹ tại Trại chăn nuôi CP Bình Minh. Các số liệu thực nghiệm phản ánh đàn nái ngoại CP 909 đạt năng suất sinh sản cao với tỷ lệ đẻ bình thường 88,64%, số con cai sữa đạt 10,00 con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,75 kg/con và khối lượng cai sữa 21 ngày đạt 6,09 kg/con. Các phác đồ an toàn sinh học, tiêm phòng vaccine và điều trị viêm tử cung (khỏi 94,64%), viêm vú (khỏi 100%) đã chứng minh tính hiệu quả lâm sàng, cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn có giá trị cho ngành chăn nuôi thú y.