Chương 1. Cơ sở lý luận quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học. Thực trạng đội ngũ CBQL và nguồn CBQL các trường Tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Biện pháp triển khai thực hiện quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY HOẠCH NGUỒN CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đối với công tác quản lý, lãnh đạo, quy hoạch là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Trong các Văn kiện, các Nghị quyết của Đảng, các Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, các Chương trình công tác của các ngành, các cấp thường nói đến quy hoạch như quy hoạch ngành, quy hoạch địa phương, quy hoạch đồng ruộng, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu công nghiệp, quy hoạch mạng lưới trường học, quy hoạch cán bộ,… Trước đây đã có một số luận án đề cập đến vấn đề quy hoạch như: luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Đình Chuẩn (2007), "Phát triển đội ngũ giáo viên tin học trường THPT theo quan điểm chuẩn hóa xã hội hóa”, Luận án Tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội; Tác giả Nguyễn Văn Đệ (2010), "Phát triển đội ngũ giảng viên các trường Đại học ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Đại học”, Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Hà Nội; Tác giả Soulivanh Phommachit (2015), "Cơ sở khoa học của quy hoạch đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Luông Nậm Thà nước CHDCND Lào, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” …; Tác giả Trần Đình Hoan (2004), Về QHCB lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Kỷ yếu đề tài cấp nhà nước ĐTĐL - 2002/07, do Ban Tổ chức Trung ương là cơ quan chủ trì. Các tác giả trên nghiên cứu chủ yếu việc xây dựng quy hoạch đội ngũ giảng viên đại học, giáo viên THCS, giáo viên THPT, về số lượng, chất lượng, cơ cấu bộ môn; quy hoạch mạng lưới trường lớp trường THCS và THPT; quy hoạch cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển cả về số lượng và chất lượng dạy học ở các trường phổ thông trên địa bàn của một tỉnh, một huyện cụ thể.
Các luận án trên không đi sâu vào phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn của cơ sở quy hoạch nguồn CBQL trường học, đặc biệt là CBQL trường tiểu học; chưa đề ra được các quy trình và các biện pháp cụ thể để quy hoạch CBQL trường học, chưa có những khuyến nghị cụ thể về chế độ chính sách cho đội ngũ CBQL trường tiểu học. 7 Quy hoạch nguồn CBQL là quy hoạch đặc biệt. Đối tượng của nó không phải là cơ sở vật chất mà là con người, là cán bộ quản lý, là lãnh đạo; vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quy hoạch. CBQL trường học là lực lượng rất quan trọng trong nhà trường, cần phải có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công tác quy hoạch nguồn CBQL,… Mặc dù ít có các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công tác quy hoạch nguồn CBQL nhưng trong thực tế Đảng và Nhà nước đã và đang rất quan tâm đến công tác này.
Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ghi rõ: “Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài” [9, tr. Thực tế, trước và sau khi có nghị quyết nêu trên, các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương trong đó có ngành giáo dục đã và đang làm công tác quy hoạch cán bộ. Nhưng trong Hội nghị Trung ương lần 6 khóa IX, Bộ Chính trị đã đánh giá: “Nhiều cấp ủy địa phương, ngành, đơn vị chưa thật sự coi trọng, không chủ động làm quy hoạch cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, hoặc làm một cách qua loa, hình thức, chất lượng thấp” [10]. Và Bộ Chính trị cũng đã nhấn mạnh trong thời gian sắp tới cần phải: “Đổi mới nhận thức và cách làm quy hoạch cán bộ khắc phục những khuyết điểm đã nêu trong kiểm điểm” [10, tr.
15] Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khóa IX đã nêu cụ thể: “Tăng cường công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý, đặc biệt quan tâm tạo nguồn cán bộ lãnh đạo trẻ có thành tích xuất sắc, những cán bộ xuất thân từ công nhân, con em nông dân, gia đình có công với cách mạng, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ. Trên cơ sở quy hoạch, đẩy mạnh việc đào tạo, đào tạo lại cán bộ theo chức danh và cán bộ nguồn” [10, tr 18]. Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã có những văn kiện, nghị quyết về giáo dục như Chỉ thị 40-CT/TW năm 2004, Nghị quyết số 29- NQ/TW năm 2013 cùng các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI và XII đều khẳng định vai trò to lớn của việc quy hoạch đội ngũ cán bộ kế cận nói chung và quy hoạch đội ngũ cán bộ QLGD nói riêng. 8 Từ những đánh giá ở trên, chúng ta thấy, mặc dù đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về quy hoạch cán bộ nhưng có rất ít tác giả đề cập đến công tác quy hoạch CBQL, nên công tác quy hoạch CBQL nói chung và quy hoạch CBQL trường tiểu học nói riêng còn lúng túng, khó khăn,… đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác quy hoạch nguồn CBQL trường tiểu học trên địa bàn huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương.
Một số khái niệm 1. Khái niệm Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra cách giải thích khác nhau về quản lý. Có thể thấy được, quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển hệ thống xã hội ở tầm vi mô và vĩ mô. Có tập thể, tổ chức là có quản lý.
Quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung. Mác đã nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ một hoạt động nào có tính xã hội và chung, trực tiếp được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý….” [dẫn theo 21] Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. - Harold Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm. Với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất.
Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học [dẫn theo 18]. Khái niệm này xuất phát từ sự khái quát về các chức năng của quản lý. - Frederic Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý khoa học về lao động đã đưa ra khái niệm “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một các tốt nhất” [dẫn theo 18]. 9 - Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của hoạt động quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [31].
- Trần Kiểm cho rằng “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22]. - Bùi Minh Hiền: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [18]. - Theo tác giả Phan Văn Kha: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ đề chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục đích đã định” [21]. Một số quan niệm khác: - Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người.
- Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra. - Quản lý là vận dụng khai thác các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng), kể cả nguồn nhân lực, để đạt đến những kết quả kỳ vọng. - Quản lý là sự tác động của con người (cơ quan quản lý) đối với con người và tập thể người nhằm làm cho hệ thống quản lý hoạt động bình thường có hiệu lực giải quyết được các nhiệm vụ đề ra, là sự trông coi giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhiệm vụ nhất định. - Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá trình xã hội đề chúng phát triển hợp quy luật, đạt được mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý.
10 Nhìn chung, mặc dù đứng từ nhiều phương diện và với những mục đích khác nhau, những những khái niệm nêu trên cho thấy những điểm chung: Quản lý là hoạt động tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, có chủ đích, hướng đích, khai thác các nguồn lực hiệu quả, để phát triển đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đã định. Đối tượng quản lý không thuần túy là con người, tập thể người, tổ chức như một số ý kiến, mà chúng rất đa dạng. Đối tượng của quản lý, trước hết bao gồm các hệ thống kinh tế - xã hội và sự vận hành của các hệ thống; Các tổ chức, cơ quan, đơn vị và hoạt động của chúng; Con người và các hoạt động của con người; các nguồn lực vật chất và phi vật chất; Các quá trình phát triển tự nhiên, xã hội, môi trường, kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ, cả những yếu tố vật chất và phi vật chất.