Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUI CHẾ THƯƠNG NHÂN 1. Khái niệm và sự cần thiết của qui chế thương nhân 1. Khái niệm qui chế thương nhân Thuật ngữ qui chế pháp lý thông thường được dùng để chỉ tổng thể các qui phạm pháp luật liên quan tới một đối tượng điều chỉnh nhất định. Chẳng hạn cuốn “Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt” do Nhà pháp luật Việt- Pháp và Tổ chức pháp ngữ quốc tế soạn thảo giải thích về một số thuật ngữ như sau: “Qui chế công vụ là tổng thể các qui định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công chức nhà nước hay của một số loại công chức”; Qui chế pháp lý nhân thân là “tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ về nhân thân và năng lực pháp luật của con người” [18, tr.
Từ điển tiếng Việt giải nghĩa chung về thuật ngữ qui chế như sau: Qui chế là những điều đã được quy định thành chế độ để mọi người theo đó mà thực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó [22, tr. Qua các nghiên cứu trên, có thể thấy: qui chế pháp lý là một thuật ngữ được sử dụng khá nhiều trong khoa học pháp lý. Qui chế pháp lý có nghĩa khác biệt với nội qui. Một từ được dùng để chỉ tổng thể các qui định được đặt ta để điều chỉnh một đối tượng nhất định có hiệu lực bao trùm toàn bộ một cộng đồng chính trị nhất định (qui chế pháp lý).
Còn một từ khác được dùng để chỉ các qui tắc xử sự có tính cách nội bộ trong một tập thể người nhất định liên quan tới một hoạt động nhất định (nội qui). Tuy nhiên thuật ngữ qui chế pháp lý đôi khi được hiểu trùng với thuật ngữ chế định pháp luật trong thực tế. Tuy nhiên thuật ngữ chế định pháp luật có nghĩa liên quan tới cấu trúc bên trong của pháp luật. Còn thuật ngữ qui chế pháp lý thường ngụ ý về các qui tắc pháp luật thực định hiện dùng để điều chỉnh một đối tượng cụ thể.
Như vậy trong các qui chế pháp lý thường được nhắc đến có qui chế thương nhân. Hiểu một cách đơn giản: Qui chế thương nhân là qui chế pháp lý về thương 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vì vậy khi muốn làm rõ khái niệm qui chế thương nhân, cần phải làm rõ khái niệm thương nhân và công việc thường xuyên của họ (đó là tiến hành các hành vi thương mại), sau khi đã làm rõ khái niệm qui chế pháp lý nói chung. Thương nhân là người làm thương mại có các đặc điểm pháp lý như sau: (1) chuyên tiến hành các hành vi thương mại (điều kiện cần); và (2) lấy hành vi thương mại làm nghề nghiệp của mình (điều kiện đủ) [8].
Bộ luật Thương mại Pháp định nghĩa: “Thương nhân là những người thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình”. Định nghĩa này, theo Giáo sư Roger Houin và Giáo sư Michel Pédamon, là một định nghĩa kép về thương nhân bao gồm cả thương nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân [6, tr. Thương nhân thể nhân có bản chất là cá nhân kinh doanh. Còn thương nhân pháp nhân chính là các công ty kinh doanh.
Vậy khi nói tới qui chế thương nhân là nói tới qui chế pháp lý chi phối tới hai loại thương nhân này. TS Ngô Huy Cương định nghĩa: “Tổng thể các qui định pháp luật xác định các điều kiện để trở thành thương nhân, và xác định, giới hạn các quyền lợi của thương nhân nói chung được xem là qui chế thương nhân” [6, tr. Tuy nhiên giữa thương nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân có sự khác biệt đáng kể liên quan tới sự vào nghề làm thương mại. Chẳng hạn thể nhân vào nghề thương mại khi đã đạt đến một độ tuổi nhất định, trong khi đó thương nhân pháp nhân chỉ có thể vào nghề khi đã được tổ chức theo một thể thức nhất định.
Mặc dù vậy các quyền lợi và nghĩa vụ của hai loại thương nhân này có nhiều điểm tương đồng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qui chế thương nhân có giới hạn trong phạm vi các nguyên tắc và qui tắc chung liên quan tới tất cả các thương nhân, chứ không bao gồm các qui tắc riêng liên quan tới từng loại thương nhân cụ thể. Vì vậy thông thường trong qui chế thương nhân tối thiểu có các nguyên tắc và qui tắc liên quan tới các vấn đề pháp lý sau: (1) Điều kiện để trở thành thương nhân; (2) Nghĩa vụ đăng ký kinh doanh; (3) Tên gọi của thương nhân; (4) Nghĩa vụ lưu giữ tài liệu thương mại; (5) Các nguyên tắc chủ yếu liên quan tới cạnh tranh; (6) Các nguyên tắc chủ yếu liên quan tới bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (7) Các nguyên tắc cơ bản khác liên quan tới bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của thương nhân… Có thể thấy qui chế thương nhân là một tập hợp có hệ thống các nguyên tắc và qui tắc rất đồ sộ liên quan tới thương nhân nói chung mà khó có thể mô tả một cách đầy đủ trong phạm vi của chỉ một công trình nghiên cứu ở cấp độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật học. Ngày nay hầu như các vấn đề của qui chế thương nhân được pháp điển hóa trong nhiều đạo luật chuyên sâu khác nhau ở hầu hết các nước.
Việt Nam cũng đi theo khuynh hướng này và đã xây dựng các đạo luật riêng biệt, chẳng hạn như: Luật Cạnh tranh 2004; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2011, Luật Bảo vệ môi trường 2010… Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định đạo luật chung về thương mại vẫn phải đề cập tới các nguyên tắc và qui tắc chủ yếu của các vấn đề pháp lý này để tạo thành một sự thống nhất trong qui chế thương nhân. Việc lý giải về khái niệm qui chế thương nhân như trên đã nói, cần phải tìm hiểu thêm về hành vi thương mại (nghề nghiệp của thương nhân). Tuy nhiên hành vi thương mại liên quan phần lớn tới kỹ thuật pháp lý. Liên quan tới vấn đề qui chế thương nhân, người ta thường chỉ nói tới nó ở phương diện 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự cần thiết phải thiết lập qui chế thương nhân, có nghĩa là lý giải cho việc tại sao cần thiết lập qui chế thương nhân.
Có lẽ sự khác biệt giữa thương nhân và người thường nằm ở chỗ thương nhân là người chuyên tiến hành các hành vi thương mại và lấy chùng làm nghề kiếm sống. Sự cần thiết của qui chế thương nhân Con người cần có phương tiện kiếm sống để đáp ứng cho các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình. Một phương tiện hết sức quan trọng và cần thiết như vậy, nhất là trong xã hội hiện đại, chính là việc tạo lập hay biến mình thành thương nhân. Đây là một công việc làm biến đổi tính cách thông thường trong hoạt động thường nhật của con người.
Thương mại luôn luôn có hai mặt trái ngược nhau. Một mặt góp phần đáp ứng các nhu cầu vật chất tinh thần của xã hội mà có thể gọi đây là mặt tích cực của thương mại. Mặt khác có khả năng rất lớn gây tác hại cho cộng đồng, cho xã hội nếu bị lạm dụng mà có thể gọi đây là mặt tiêu cực của thương mại. Vì vậy để kiểm soát các hoạt động thương mại, phát huy mặt tốt, tích cực, và hạn chế hay loại bỏ mặt tiêu cực, có hại, cần phải có một qui chế thương nhân đầy đủ và hiệu quả.
Luận giải cho cho những nhận định này, việc khảo sát hành vi thương mại không thể bỏ qua. Ngô Huy Cương quan niệm: “Trong khoa học pháp lý, hành vi thương mại thường được phân biệt với hành vi dân sự, có nghĩa chúng đều là các hành vi pháp lý làm phát sinh ra hậu quả pháp lý bởi ý chí của đương sự. Như vậy hành vi thương mại là hành vi pháp lý có tính chất thương mại. Nói cách khác, hành vi pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý trong lĩnh vực thương mại hay làm phát sinh quan hệ pháp luật thương mại là hành vi thương mại” [10, tr.
Luật Thương mại 2005 không dùng thuật ngữ “hành vi thương mại” mà 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thay vào đó là thuật ngữ “hoạt động thương mại” nhưng không có nghĩa khác biệt giữa hai thuật ngữ này về nội dung học thuật. Luật này định nghĩa: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác” (Điều 3, khoản 1). Với cách thức định nghĩa khái niệm theo kiểu liệt kê, Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế viết như sau: “Thuật ngữ “thương mại”/commerce/cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại /commercial/ bao gồm, nhưng không phải chỉ bảo gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ” [19].
Các giải thích khái niệm hành vi thương mại nói trên cho thấy các hành vi thương mại là các hành vi trao đổi các lợi ích vật chất và tinh thần giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa các thương nhân và người thường, có tác động lớn tới xã hội. Sự tác động ở đây có thể tích cực hoặc tiêu cực. Sự tác động tích cực bao gồm: (1) việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người; (2) thúc đẩy giao lưu dân sự, kinh tế và thương mại giữa các cộng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng; (3) thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển; và (4) tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế. Sự tác động tiêu cực có thể bao gồm sự lạm dụng hành vi thương mại gây thiệt hại cho cá nhân người tiêu dùng, cho đối thủ cạnh tranh, cho trật tự và an toàn xã hội, cho an ninh quốc gia và cho giao lưu quốc tế.