Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG VÀ HỘI BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG 1. Những vấn đề chung về bảo vệ ngƣời tiêu dùng 1. Khái niệm người tiêu dùng Trong bản Hƣớng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ ngƣời tiêu dùng ban hành từ năm 1985 và đã đƣợc điề u chỉnh vào năm 1999, khái niệm ngƣời tiêu dùng không đƣợc giải thích một cách rõ ràng. Tuy nhiên, theo bản hƣớng dẫn này ngƣời tiêu dùng đƣợc hƣởng 8 quyền sau đây: (1) quyền đƣợc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, (2) quyền đƣợc an toàn, (3) quyền đƣợc thông tin, (4) quyền đƣợc lựa chọn, (5) quyền đƣợc lắng nghe, (6) quyền đƣợc khiếu nại và bồi thƣờng, (7) quyền đƣợc giáo dục, đào tạo về tiêu dùng, (8) quyền đƣợc có môi trƣờng sống lành mạnh và bền vững [11, tr.
Đây chỉ có thể là các quyền mà chỉ chủ thể là cá nhân con ngƣời mới đầy đủ tƣ cách để thụ hƣởng. Ngƣời tiêu dùng (consumer) là khái niệm phổ biế n đƣợc hiểu dƣới nhiều khía cạnh khác nhau trong các lĩnh vực của đời số ng xã hô ̣i cũng nhƣ trong khoa ho ̣c pháp lý. Dưới góc độ kinh tế: Ngƣời tiêu dùng là phạm trù chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải đƣợc tạo ra bởi nền kinh tế. Ngƣời tiêu dùng là ngƣời mua nhƣng khác với mua nguyên liệu hoặc mua hàng để bán lại, họ là những ngƣời sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó.
Trong mọi nền sản xuất xã hội, xét cho cùng, đối tƣợng đƣợc hƣớng đến chính là ngƣời tiêu dùng. Những động thái chi tiêu của họ đối với những ngành, nhóm ngành nhất định là tƣ liệu để rút ra định hƣớng đầu tƣ, sản xuất và tiếp thị cho các doanh nghiệp. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới góc độ pháp lí: Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, khái niệm ngƣời tiêu dùng chỉ xuất hiện với tƣ cách là chủ thể pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ ngƣời tiêu dùng đƣợc ra đời [35, tr. Trƣớc đó, ngƣời tiêu dùng chỉ là khái niệm của kinh tế học.
Họ cũng vẫn tham gia các quan hệ dân sự nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng nhƣng chỉ đƣợc coi là một bên trong các hợp đồng dân sự. Vì vậy, dƣới góc độ pháp lí, ngƣời tiêu dùng là đối tƣợng đƣợc bảo vệ theo pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng. Đinh ̣ hiǹ h đƣợc đối tƣợng đƣợc bảo vệ theo pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Ngƣời tiêu dùng không thể là đối tƣợng chung chung mà luôn là các chủ thể cụ thể.
Thông thƣờng, pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng các nƣớc giới hạn ngƣời tiêu dùng là các cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thƣơng mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp [35]. Quan niê ̣m về ngƣời tiêu dùng ở các quố c gia đƣơ ̣c đinh ̣ nghiã khác nhau, ngƣời tiêu dùng có thể là cá nhân (thể nhân) hoă ̣c pháp nhân. Theo chỉ thị 93/13/EEC năm 1993 của Hội đồng Châu Âu tại Điều 2 thì “người tiêu dùng được xác định là con người tự nhiên ”. Luâ ̣t tiêu dùng Pháp đinh ̣ nghiã : “Người tiêu dùng được hiểu là người không phải chủ doanh nghiê ̣p, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các di ̣ch vụ để phục vụ cho gia đình hoặc bản thân ” [38].
Luâ ̣t bảo vê ̣ ngƣời tiêu dùng Đài Loan ban hành ngày 11/01/1994, bổ sung năm 2005 ghi nhâ ̣n ngƣời tiêu dùng là “ngƣời tham gia vào các giao dịch, sƣ̉ du ̣ng hàng hóa hoă ̣c dich ̣ vu ̣ vì mu ̣c đích tiêu dùng”. Ở Việt Nam, lầ n đầ u tiên xuấ t hiê ̣n khái niệm ngƣời tiêu dùng trong Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng năm 1999: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Pháp luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dùng ngày càng đƣợc hoàn thiện hơn, với nhiều các quy định mới cho ra đời Luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng năm 2010 tiến bộ hơn pháp lệnh bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Một lần nữa khái niệm ngƣời tiêu dùng lại đƣợc lặp lại: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức” [27, Điều 3, Khoản 1].
Luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng Việt Nam không quy định về hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Tuy vậy, có thể hiểu đƣợc rằng, đó là những gì đƣợc phép lƣu thông và đƣợc ngƣời ta mua về để sử dụng cho các mục đích sinh hoạt, tiêu dùng cho cá nhân, cho gia đình. Theo quy định nhƣ trên thì ngƣời tiêu dùng không chỉ là ngƣời mua mà còn là ngƣời sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt, hoặc vừa là ngƣời mua vừa là ngƣời sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Vai trò của người tiêu dùng Ngƣời tiêu dùng là những con ngƣời, là tất cả chúng ta [34].
Là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển toàn diện và lâu dài, con ngƣời có quyền đƣợc hƣởng các sản phẩm an toàn, lành mạnh phù hợp với thu nhâ ̣p và nhu cầu của mình. Trong quan hệ mua sắm hoặc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, ngƣời tiêu dùng thƣờng gă ̣p nhiề u yếu thế. Vì vậy, cầ n có mô ̣t cơ chế bảo đảm sự an toàn đối với ngƣời tiêu dùng khi ho ̣ tham gia các giao dịch với các nhà sản xuấ t kinh doanh hàng hóa , dịch vụ, đảm bảo quyề n và lơ ̣i ích cho ngƣời tiêu dùng. Ngƣời tiêu dùng có vai trò quan tro ̣ng trong nề n kinh tế , nề n kinh tế không thể tồ n ta ̣i và phát triể n nế u thiế u ngƣời tiêu dùng , mọi hoạt động sản xuấ t và tiêu dùng đều gắn liền với nhu cầu của con ngƣời.
Ngƣời tiêu dùng giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế và là đối tƣợng hƣớng tới của mọi doanh nghiệp, sƣ̉ du ̣ng các sản phẩm của doanh nghiê ̣p. Tùy thuộc vào thị hiếu của ngƣời t iêu dùng và ý kiến thu thập đƣợc từ phía ngƣời tiêu dùng mà doanh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp có thể điều chỉnh lại phƣơng pháp sản xuất, hoàn thiện sản phẩm của mình sao cho phù hợp với nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, bởi sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào việc ngƣời tiêu dùng có sƣ̉ du ̣ng sản phẩ m của doanh nghiê ̣p hay không. Kinh tế càng phát triển hàng hóa , dịch vụ không ngừng gia tăng về số lƣơ ̣ng, chấ t lƣơ ̣ng , chủng loại , mẫu mã , các doanh nghiệp có nhiều các phƣơng thƣ́c ca ̣nh tranh làm ảnh hƣơởng đến ngƣời tiêu dùng. Ngƣời tiêu dùng luôn phải đố i mă ̣t với tình trạng bất cân xứng về thông tin của sản phẩ m, do không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá, dịch vụ, cũng nhƣ do những hạn chế trong hiểu biết về chuyên môn, kỹ thuật nên thƣờng không hiểu đƣợc đầy đủ tính năng, công dụng, chất lƣợng, các rủi ro liên quan tới quá trình tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, luôn phải chiụ thiê ̣t thòi , quyề n lơ ̣i bi ̣xâm pha ̣m.
Ngƣời tiêu dùng luôn ở vi ̣tri ̣yế u t hế hơn so với các danh nghiê ̣p , và các doanh nghiệp luôn nắ m rõ ƣu thế của miǹ h. Các đơn vị sản xuấ t, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nhiề u hành vi không lành mạnh trong kinh doanh nhằ m thuyết phục ngƣời tiêu dùng sƣ̉ du ̣ng sản phẩ m của họ thu lợi nhuận cao, gây ảnh hƣởng đến quyề n đƣơ ̣c sƣ̉ du ̣ng các sản phẩ m an toàn lành ma ̣nh của ngƣời tiêu dùng. Ngƣời tiêu dùng không hiể u biế t đầ y đủ nhƣ̃ng quyề n và lơ ̣i ích hơ ̣p pháp của mình trong các g iao dich ̣ , dẫn đế n tình trạng k hi mua hàng không lấy hóa đơn, chứng từ, bảo hành nên về sƣ̉ du ̣ng xảy ra thiê ̣t ha ̣i không có cơ sở để giải quyết. Vì vâ ̣y, cầ n có nhƣ̃ng công cu ̣ , nhƣ̃ng thiế t chế xã hội để bảo vệ quyề n lơ ̣i ngƣời tiêu dùng , cầ n có nhƣ̃ng tổ chƣ́c có đầ y đủ công cu ̣ pháp lý , cũng nhƣ kiến thức chuyên môn đủ mạnh để bảo vệ ngƣời tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng thực chất cũng là bảo vệ sản xuất, đảm bảo cho sản xuấ t phát triể n hiê ̣u quả, hƣớng tới tiêu dùng bề n vƣ̃ng.
Để phát triển kinh tế bền vững, bất kì nhà nƣớc nào cũng đều phải có 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một công cụ mạnh hơn để bảo vệ ngƣời tiêu dùng , đó là chính sách bảo vệ ngƣời tiêu dùng để bảo đảm cho ngƣời tiêu dùng có thể dựa vào đó để tự mình bảo vệ hoặc mô ̣t đa ̣i diê ̣n pháp lý sẵn sàng bảo vệ họ trƣớc những hành vi vi pha ̣m pháp luật của các doanh nghiệp. Khái quát về các thiết chế chủ yếu trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Ở Việt Nam, quan niệm về thiết chế bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng ít đƣợc đề cập trong các sách, báo và các công trình nghiên cứu khoa học pháp lí ở nƣớc ta. Trong nhƣ̃ng năm gầ n đây , thuâ ̣t ngƣ̃ “thiế t chế ” hay đƣơ ̣c sƣ̉ dụng song hành với thuật ngữ “thể chế” trong các dự án , chƣơng triǹ h nghiên cƣ́u về cải cách pháp luâ ̣t , cải cách thể chế phục vụ sự vận hành của nền kinh tế thi ̣trƣờng [3, tr. Trên cơ sở pháp luật Việt Nam hiện hành và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Tiến sĩ Nguyễn Văn Quỳ, Viện khoa học pháp lý, Bộ Tƣ pháp đã đƣa ra khái niệm thiết chế bảo vệ ngƣời tiêu dùng nhƣ sau: Thiết chế bảo vệ ngƣời tiêu dùng là các cơ quan, tổ chức có chức năng giải quyết hoặc trực tiếp hỗ trợ giải quyết các yêu cầu bảo vệ của ngƣời tiêu dùng [35, tr.
Nhƣ vâ ̣y , thiết chế bảo vệ ngƣời tiêu dùng bao gồm thiết chế công quyền và thiết chế phi công quyền.