CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ CỦA ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái niệm chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề 1. Một số khái niệm liên quan a. Làng nghề Làng nghề được hình thành lâu đời trong lịch sử phát triển của xã hội.
Theo sự phát triển của lực lượng sản xuất của nhân loại, phân công lao động dần được phát triển, hoạt động sản xuất thủ công nghiệp từ chỗ ban đầu là hoạt động sản xuất phụ trợ cho sản xuất nông nghiệp, đã dần được phân tách từ nông nghiệp để trở thành ngành nghề độc lập, từ đó hình thành nên các làng nghề. Quá trình phát triển của làng nghề là một quá trình lịch sử lâu dài, lúc đầu từ một vài gia đình rồi dần đến cả họ, sau đó phát triển ra cả làng và kế tiếp nhau truyền từ đời này qua đời khác, từ đó, hình thành những làng nghề thủ công truyền thống, gắn với tên làng, tên xã của nông thôn Việt Nam. Cho đến nay, chưa có khái niệm chính thức và vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề: - Tác giả Trần Minh Yến trong công trình “Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa” (2004) cho rằng: làng nghề được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính. - Trong công trình “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (1998), nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng nhấn mạnh "Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công.
Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông. Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình". - Tác giả Mai Thế Hởn trong “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2003) cho rằng: “Làng nghề là những thôn làng có một hoặc hai nghề thủ công truyền thống tách ra khỏi nông nghiệp và đem lại nguồn thu nhập chủ yếu”.
Như vậy, các nhà nghiên cứu về làng nghề đều thống nhất các nội dung cơ bản của khái niệm làng nghề như: gồm hai yếu tố “làng” và “nghề” (Trần Minh Yến, 2004), nổi trội một nghề thủ công với tầng lớp thợ chuyên nghiệp, (Bùi Văn Vượng, 1998) và sống được bằng chính nghề đó (Mai Thế Hởn, 2003). 6 Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, LNTT; Chính phủ có Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 về phát triển ngành nghề nông thôn, thì làng nghề và LNTT được hiểu như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau"; “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. LNTT phải có đủ các tiêu chí của làng nghề, đồng thời phải có ít nhất một nghề truyền thống". Đây được xem là khái niệm toàn diện và khái quát nhất, được áp dụng phổ biến, rộng rãi trong các nghiên cứu và trong lĩnh vực QLNN về làng nghề.
Như vậy, có thể hiểu: “Làng nghề là (1) một hoặc nhiều đơn vị hành chính dân cư có quy mô nhỏ hơn đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn; (2) ngoài ngành nông nghiệp, tồn tại một hoặc một số ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với các ngành nông nghiệp; (3) các LNTT được công nhận dựa trên nhiều tiêu chí, và phải có ít nhất một nghề truyền thống”. Phát triển làng nghề Phát triển Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất.
Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong… Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” Trong kinh tế, phát triển bao hàm nghĩa rộng hơn, bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau. Sự tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là một nội dung của sự phát triển. Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân. Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng trưởng bền vững về các tiêu chuẩn sống bao gồm tiêu dùng, vật chất, giáo dục, sức khỏe và bảo vệ môi trường.
Phát triển làng nghề 7 Phát triển làng nghề là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định, có hiệu quả cao trong các làng nghề, gắn liền với việc khai thác hợp lý, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống cũng như đảm bảo những đòi hỏi về ổn định, nâng cao đời sống, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn có làng nghề. Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề a. Khái niệm Việc sử dụng thuật ngữ "chính sách" đã hiện hữu ở nước ta khá phổ biến, nhưng khái niệm về chính sách còn được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau: - Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm giải quyết một vấn đề (Anderson 1984) - Chính sách là một hành động mang tính quyền lực nhà nước nhằm sử dụng nguồn lực để thúc đẩy một giá trị ưu tiên (Considine 1994) - Chính sách là một công việc được thực hiện liên tục, bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thể chế công để kết nối, phối hợp và biểu đạt giá trị họ theo đuổi (Considine 1994) - Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế đã đề ra. Như vậy, có thể hiểu chính sách là công cụ, phương tiện hành động của chủ thể quản lý nhằm giải quyết các vấn đề khác nhau để thúc đẩy phát triển một hệ thống KT- XH với giới hạn không gian, thời gian theo một định hướng mục tiêu đã được xác định.
Chính sách được thể hiện dưới các cấp độ: quan điểm, chủ trương, các giải pháp, công cụ của chủ thể chính sách để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong khoảng thời gian nhất định. Đối tượng chịu sự tác động, điều chỉnh của chính sách rất đa dạng và khác nhau, nhưng đều được xác định hướng phát triển chung do chủ thể của chính sách đưa ra. Hiện nay, nghiên cứu về chính sách phát triển làng nghề chưa thấy có một khái niệm thống nhất. Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề là tổng hợp các chính sách khác nhau, tác động phạm vi rộng, dài hạn đến sự phát triển của các làng nghề.
Các chính sách này cũng sử dụng rất nhiều các công cụ, là hợp điểm của nhiều chính sách bộ phận. Vì vậy có thể hiểu: “Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề là tổng thể các quan điểm, biện pháp, mục đích nhằm phát triển làng nghề theo định hướng chiến lược phát triển bền vững. Nó có thể là chính sách về đất đai, về khuyến khích đầu tư, về thương mại thị trường, về thuế, tín dụng, về khoa học công nghệ, đào tạo nguồn 8 nhân lực và bảo vệ môi trường. Đây là những chính sách có tác động cơ bản tới sự phát triển của làng nghề theo hướng tăng trưởng về tốc độ phát triển, cơ cấu (tỷ trọng) tổng sản phẩm, thu nhập và đảm bảo môi trường sinh thái ở các làng nghể”.
Đặc trưng cơ bản Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề có những đặc trưng cơ bản như sau: Một là: Đối tượng tác động của chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề là toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống kinh tế xã hội của làng nghề. Để làng nghề phát triển thì Nhà nước cần chủ động hoạch định các chính sách tác động vào các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các làng nghề. Đối tượng của chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề không chỉ liên quan đến các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề của làng nghề mà còn liên quan tới người tiêu dùng và môi trường sống của con người nói chung. Vì vậy, bên cạnh các biện pháp, phương tiện kích thích sự phát triển tăng trưởng về tốc độ, cơ cấu, thu nhập của làng nghề, chính sách của Nhà nước cũng cần phải kiểm soát, kiềm chế, khắc phục những hạn chế của phát triển làng nghề, đặc biệt là những vấn đề về trách nhiệm đối với xã hội, người tiêu dùng và môi trường.
Hai là: Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề là tập hợp liên quan đến một hệ thống rất nhiều các chính sách công khác nhau, đặc biệt là hệ thống các chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó có các làng nghề như các chính sách về ngành nghề nông thôn, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách đầu tư tín dụng, chính sách về thương mại, khoa học công nghệ, đào tạo. Ba là: Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề có thể có nhiều biện pháp thực hiện. Chúng gồm 3 nhóm biện pháp: về kinh tế là các chính sách sử dụng các công cụ, đòn bẩy kinh tế tác động vào lợi ích của các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề; về hành chính là các luật pháp, thủ tục hành chính; về giáo dục tuyên truyền là các chính sách xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, giáo dục, đào tạo. Bốn là: Mục tiêu của chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề là sự tăng trưởng về tốc độ, cơ cấu của các làng nghề và thu nhập của người lao động trong các làng nghề đó.