Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Làng nghề thủ công truyền thống tại Việt Nam giữ vị trí chiến lược trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Là bộ phận gắn kết hữu cơ với làng xã nông nghiệp của người Việt, làng nghề đóng vai trò cầu nối kinh tế và kỹ thuật giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa phương thức sản xuất truyền thống và hiện đại. Không chỉ tạo việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho lao động nông nhàn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làng nghề còn là không gian bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc. Nhận thức được tầm quan trọng đó, các cấp chính quyền đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp nhằm hỗ trợ hệ thống làng nghề phát triển và hội nhập quốc tế.

Tỉnh Thái Bình là địa phương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ có truyền thống lâu đời về ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Tuy nhiên, quá trình phát triển làng nghề tại địa phương đang đối diện với nhiều rào cản và nguy cơ suy thoái. Số lượng làng nghề duy trì hoạt động sụt giảm nghiêm trọng: nếu năm 2016 toàn tỉnh có 245 làng nghề thì tính đến tháng 8/2021, qua rà soát và đánh giá của ngành Công Thương, chỉ còn 141 làng nghề duy trì hoạt động và đáp ứng đủ các tiêu chí quy định (đã loại bỏ 106 làng nghề không đạt tiêu chuẩn hoặc gây ô nhiễm môi trường). Phần lớn các làng nghề phát triển thiếu tính bền vững, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ và thiết bị lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa cao, thiếu thương hiệu, sản xuất chạy theo lợi nhuận trước mắt mà chưa chú trọng đầu tư chiều sâu. Đội ngũ thợ giỏi, nghệ nhân ngày càng giảm sút, trong khi lao động trẻ có xu hướng di chuyển ra các đô thị lớn. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của tỉnh được đánh giá là chưa thực sự phát huy tác dụng rõ rệt hoặc hiệu lực tác động còn hạn chế.

Trước yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn điều hành kinh tế địa phương, đề tài “Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình” được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện công cụ quản lý nhà nước này.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là: hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề, phân tích thực trạng và đánh giá các chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách này trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua 4 nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài (khái niệm làng nghề, chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề, đặc điểm, phân loại, nội dung và nguyên lý xây dựng chính sách).
  2. Nghiên cứu kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của một số địa phương (Hà Nội, Bắc Ninh), từ đó rút ra bài học kinh nghiệm có thể áp dụng phù hợp cho tỉnh Thái Bình.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016–2021; làm rõ các kết quả đạt được, hạn chế và phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó.
  4. Đề xuất quan điểm, phương hướng, mục tiêu và các nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề do chính quyền địa phương ban hành và triển khai thực hiện trên các phương diện: tín dụng - tài chính, đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại và bảo vệ môi trường.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thái Bình, bao gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố: Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư, Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy và thành phố Thái Bình.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích các dữ liệu, tài liệu thứ cấp trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên các quan điểm học thuật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về ngành nghề nông thôn. Khái niệm làng nghề được kế thừa từ các công trình của Trần Minh Yến (2004), Bùi Văn Vượng (1998) và Mai Thế Hởn (2003), với sự kết hợp của hai yếu tố "làng" và "nghề", có sự tách biệt khỏi sản xuất thuần nông và tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu. Về phương diện pháp lý, tác giả căn cứ vào Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn để xác lập tiêu chí nhận diện làng nghề và làng nghề truyền thống. Khái niệm chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề được tiếp cận theo khung lý thuyết chính sách công của Anderson (1984) và Considine (1994), định nghĩa đây là tổng thể các quan điểm, biện pháp, công cụ điều tiết của chủ thể quản lý nhà nước tác động vào các lĩnh vực đất đai, khuyến khích đầu tư, thương mại, thuế, tín dụng, công nghệ, nhân lực và môi trường nhằm thúc đẩy làng nghề phát triển bền vững.

Hệ thống đánh giá chính sách trong khóa luận dựa trên 5 tiêu chí:

  1. Tính phù hợp của chính sách đối với nhu cầu và đặc thù địa phương.
  2. Tính khoa học và tính khả thi trong việc xác lập chỉ tiêu và phương thức thực hiện.
  3. Tính thống nhất, đồng bộ, không mâu thuẫn hay chồng chéo trong hệ thống văn bản.
  4. Tính minh bạch, ổn định và tính kế thừa giữa các giai đoạn ban hành.
  5. Hiệu quả của bộ máy tổ chức thực hiện và mức độ đồng thuận của đối tượng thụ hưởng.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu được triển khai:

  • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thống kê và thu thập dữ liệu: Thu thập số liệu thứ cấp, văn bản chỉ đạo, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội và số liệu ngành công thương từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Thái Bình, Sở Công Thương tỉnh Thái Bình và các công trình khoa học đã công bố.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng phân tích định tính kết hợp tổng hợp số liệu để làm rõ thực trạng ban hành, triển khai 4 nhóm công cụ chính sách chính tại Thái Bình, từ đó chỉ ra những mặt đạt được, rào cản và nguyên nhân.
  • Phương pháp so sánh: So sánh mô hình chính sách của thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh để rút ra bài học kinh nghiệm; so sánh các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (GRDP, tỷ lệ lao động qua đào tạo) qua từng năm trong giai đoạn 2016–2021.

Dưới đây là bảng tổng hợp các bài học kinh nghiệm từ hai địa phương được tác giả so sánh và đối chiếu:

Địa phương Quy mô và đặc điểm làng nghề Chính sách hỗ trợ điển hình Bài học rút ra cho Thái Bình
Thành phố Hà Nội 1.350 làng có nghề, 309 làng nghề/làng nghề truyền thống được công nhận; doanh thu nhiều làng đạt trên 10-50 tỷ đồng/năm. Quyết định 22/2008/QĐ-UBND, Quyết định 31/2014/QĐ-UBND, Nghị quyết 11/2019/NQ-HĐND: Hỗ trợ 100% học phí đào tạo nghề; hỗ trợ 50% cước vận chuyển dự hội chợ miền Trung, Nam (tối đa 6 triệu đồng/năm); tài trợ 100% kinh phí xây dựng thương hiệu (tối đa 100 triệu đồng); tài trợ 100% trạm xử lý nước thải đầu mối. Dành nguồn lực tài chính tập trung cho xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và hạ tầng xử lý chất thải tập trung.
Tỉnh Bắc Ninh 62 làng nghề (31 làng nghề truyền thống), 14.360 hộ làm nghề, 76.870 lao động (11,55% lao động trong độ tuổi), tổng giá trị sản xuất đạt 7.629,4 tỷ đồng. Quyết định 50/2010/QĐ-UBND, Nghị quyết 156/2010/NQ-HĐND, Quyết định 249/2014/QĐ-UBND: Quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề tách khỏi khu dân cư; Ngân hàng Chính sách xã hội huy động vốn đa kênh hỗ trợ làng nghề; triển khai đề án BVMT lưu vực sông Cầu. Tăng cường công tác quy hoạch tập trung cụm làng nghề và ban hành các quy chế quản lý môi trường đặc thù, khả thi.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của địa phương

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về làng nghề, quá trình phát triển làng nghề và bản chất của chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề. Tác giả phân tích 4 đặc trưng cốt lõi của chính sách: đối tượng tác động bao trùm toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội của làng nghề; cấu thành từ hệ thống nhiều chính sách công liên ngành; sử dụng kết hợp ba nhóm biện pháp (kinh tế, hành chính, giáo dục - tuyên truyền); và hướng đến mục tiêu kép là tăng trưởng kinh tế song hành với bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái. Phân loại chính sách được chia theo cấp thẩm quyền (Quốc hội, Chính phủ/Bộ ngành, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và theo 8 nhóm nội dung (đất đai, đầu tư, thị trường, thuế, tín dụng, khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường).

Chương này cũng xác định 3 nguyên tắc nền tảng trong hoạch định chính sách địa phương: phù hợp với đường lối phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tuân thủ pháp luật hiện hành; và phù hợp với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và các cam kết WTO. Nội dung quy định chính sách cấp địa phương được khu biệt vào 4 mảng trọng yếu: tài chính - tín dụng, đào tạo bồi dưỡng nhân lực, xúc tiến thương mại và bảo vệ môi trường. Thông qua việc phân tích thực tế áp dụng tại Hà Nội và Bắc Ninh, chương kết luận 4 bài học kinh nghiệm: nâng cao nhận thức của lãnh đạo địa phương; tập trung nguồn ngân sách hỗ trợ có trọng tâm; đẩy mạnh quy hoạch hạ tầng cụm công nghiệp; và làm tốt công tác tuyên truyền nhằm huy động sự đồng thuận của nhân dân làng nghề.

CHƯƠNG 2: Thực trạng chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình

Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và mạng lưới làng nghề tại Thái Bình. Tỉnh nằm trong vùng duyên hải Bắc Bộ với 54 km bờ biển, hệ thống sông Thái Bình tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành dệt chiếu, xe đay, chế biến nông sản, khai thác khí đốt và sản xuất gốm sứ. Giai đoạn 2016–2020, tăng trưởng GRDP bình quân của tỉnh đạt 9,286%/năm (vượt mục tiêu 8,6%/năm của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX); tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm 75,5% GRDP năm 2020.

Bảng số liệu phản ánh tăng trưởng kinh tế địa phương trong giai đoạn nghiên cứu:

Năm Tốc độ tăng GRDP tổng số (%) Nông, lâm nghiệp, thủy sản (%) Công nghiệp - Xây dựng (%) Thương mại - Dịch vụ (%)
2016 11,40 2,80 15,60 11,50
2017 11,00 2,46 22,10 8,43
2018 10,53 3,97 20,07 6,68
2019 10,30 -0,78 21,20 7,30
2020 3,20 3,40 3,90 3,40
6 tháng đầu năm 2021 4,92 1,71 7,93 4,35

Về quy mô mạng lưới, tính đến ngày 31/8/2021, tỉnh có 141 làng nghề được công nhận, phân bố tại các địa phương: Hưng Hà (34), Quỳnh Phụ (25), Kiến Xương (21), Thái Thụy (18), Tiền Hải (17), Đông Hưng (17), Vũ Thư (16), thành phố Thái Bình (10). Các làng nghề được chia thành 6 nhóm nghề chính. Khóa luận điểm tên các làng nghề tiêu biểu: chạm bạc Đồng Xâm (xã Hồng Thái, Kiến Xương; trên 300 năm lịch sử); dệt Phương La / làng Mẹo (xã Thái Phương, Hưng Hà; có gần 5.000 máy dệt, sản xuất hàng trăm triệu khăn mỗi năm, giải quyết việc làm cho trên 30.000 lao động); thêu Minh Lãng (Vũ Thư; 70% hộ làm nghề, sản xuất Kimono, Hàn phục); bánh Cáy làng Nguyễn (xã Nguyên Xá, Đông Hưng); dệt đũi Nam Cao (Kiến Xương; hơn 2.700 khung dệt, gần 10.000 lao động, 13 doanh nghiệp tư nhân, 30 tổ hợp và 780 hộ cá thể); mây tre đan Thượng Hiền (Kiến Xương; 1.233 hộ tham gia với 2.420 lao động, giá trị sản xuất năm 2020 đạt 92,4 tỷ đồng). Khối doanh nghiệp trong làng nghề có 843 doanh nghiệp và hợp tác xã (chiếm 21,4% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh) với 58.727 lao động; tổng doanh thu năm 2020 đạt 15.667 tỷ đồng, nộp ngân sách 201 tỷ đồng (TP. Thái Bình chiếm 289 doanh nghiệp, Hưng Hà 131, Đông Hưng 94, các huyện khác 329). Đồng thời, văn bản chỉ ra tình trạng một số làng nghề dệt chiếu cói bị mai một hoàn toàn như tại An Dục, An Tràng, An Vũ, An Lễ (Quỳnh Phụ), Đông Vinh (Đông Hưng), Tân Lễ (Hưng Hà).

Đi sâu vào thực trạng từng nhóm chính sách, tác giả đánh giá:

  • Chính sách tín dụng: Cơ chế cho vay bắt buộc phải có tài sản thế chấp là rào cản lớn do hộ gia đình và cơ sở nhỏ thiếu tài sản cầm cố, năng lực lập phương án kinh doanh hạn chế; hạn mức vay ưu đãi thấp, lãi suất còn cao và thủ tục rườm rà.
  • Chính sách đào tạo nguồn nhân lực: Chưa có chính sách đào tạo riêng biệt, nhất quán cho làng nghề; mới chú trọng dạy nghề ngắn hạn mà bỏ ngỏ đào tạo kỹ năng quản trị kinh doanh và hội nhập; cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên dạy nghề còn thiếu thốn, lạc hậu.
  • Chính sách xúc tiến thương mại: Nguồn vốn hỗ trợ còn dàn trải, chưa khuyến khích đầu tư chiều sâu; lưu thông sản phẩm chủ yếu qua hợp đồng nhỏ lẻ và trung gian thương mại tự do, thiếu sự bảo trợ kết nối của các tổ chức nhà nước.
  • Chính sách bảo vệ môi trường: Quy chế bảo vệ môi trường làng nghề của tỉnh còn chung chung, mang tính giải pháp tình thế; việc xử lý vi phạm hành chính chưa nghiêm; mới chỉ áp dụng phí nước thải và phí vệ sinh, chưa triển khai thuế môi trường, phí phát thải khí hay quỹ môi trường.

Nguyên nhân của các hạn chế được quy về 4 yếu tố: trình độ cán bộ tham mưu còn hạn chế; sự phối hợp giữa cơ quan chức năng trung ương và địa phương thiếu đồng bộ; thủ tục hành chính nặng nề, thiếu kiểm tra, giám sát định kỳ; và ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế, môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh chưa cao.

CHƯƠNG 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề ở tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

Chương 3 đề xuất định hướng phát triển làng nghề gắn với quy hoạch không gian đô thị, xây dựng nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp và kết hợp công nghệ cổ truyền với công nghệ tiên tiến.

Tác giả tổng hợp các chỉ tiêu phát triển làng nghề tỉnh Thái Bình đến năm 2025:

  • Hoàn thành quy hoạch và đưa vào khai thác 49 cụm công nghiệp làng nghề.
  • Nâng tổng doanh thu làng nghề toàn tỉnh lên 15.000 tỷ đồng, duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu 30–35%/năm.
  • Giải quyết việc làm thường xuyên cho 60.000 lao động nông thôn mỗi năm.
  • Mục tiêu môi trường: 80% làng nghề đạt chuẩn môi trường trong sạch; 100% cụm công nghiệp làng nghề có hệ thống xử lý chất thải tập trung; 100% cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch và lắp đặt thiết bị xử lý chất thải đạt chuẩn.

Để đạt được các mục tiêu trên, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chính sách:

  1. Hoàn thiện chính sách tài chính - tín dụng: Hướng tín dụng ưu đãi vào đúng các dự án sản xuất chính của làng nghề và các dự án xử lý môi trường; hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, số hóa hệ thống đăng ký thế chấp nội mạng; cho phép thế chấp bằng giấy tờ có giá; cho phép ngân hàng sử dụng hộ cá thể làm đại lý cho vay; kiện toàn năng lực và tăng nguồn vốn cho Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Bình; thành lập quỹ đầu tư phát triển và quỹ đầu tư rủi ro.
  2. Hoàn thiện chính sách đào tạo nguồn nhân lực: Đổi mới đầu tư đào tạo nghề; nghiên cứu cơ chế cấp giấy chứng nhận trình độ hành nghề cấp tỉnh độc lập với hệ thống văn bằng trường học; kiện toàn trung tâm dịch vụ nhân lực nông thôn; mở các lớp tập huấn ngắn hạn bồi dưỡng quản trị cho chủ cơ sở; tạo cơ chế cho nghệ nhân, thợ giỏi mở lớp truyền nghề và được thu học phí theo thỏa thuận.
  3. Hoàn thiện chính sách xúc tiến thương mại: Đề xuất nhà nước hỗ trợ 70% kinh phí xúc tiến thương mại (gồm tiền thuê gian hàng, chi phí vận chuyển, ăn nghỉ) khi tham gia hội chợ, triển lãm; đầu tư xây dựng mạng lưới chợ, cửa hàng trung tâm và trạm dừng nghỉ ven quốc lộ tại các điểm du lịch để bán sản phẩm làng nghề; nâng cao năng lực Trung tâm Xúc tiến thương mại thuộc Sở Công Thương; hỗ trợ tài chính bảo hộ thương hiệu theo cam kết WTO.
  4. Hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường làng nghề: Quy hoạch tách biệt triệt để các khu sản xuất có chất thải độc hại ra khỏi khu dân cư; đầu tư hệ thống cấp thoát nước và cải tạo mặt bằng sản xuất; huy động kinh phí xử lý chất thải từ sự đóng góp trực tiếp của các cơ sở sản xuất kết hợp ngân sách địa phương.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất và hệ thống hóa được hệ thống số liệu thực chứng chi tiết về mạng lưới làng nghề và kết quả điều hành kinh tế tại tỉnh Thái Bình:

  • Xác định quy mô cơ học của hệ thống làng nghề sau đợt sàng lọc tiêu chuẩn tính đến tháng 8/2021: 141 làng nghề đủ điều kiện hoạt động (giảm 106 làng nghề so với con số 245 làng nghề của năm 2016).
  • Thống kê đầy đủ quy mô khu vực kinh tế làng nghề năm 2020: 843 doanh nghiệp và hợp tác xã hoạt động trong các làng nghề, tạo việc làm cho 58.727 lao động, mang lại doanh thu 15.667 tỷ đồng và đóng góp 201 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước.
  • Bóc tách số liệu cụ thể ở các cụm sản xuất tiêu biểu: làng dệt Phương La với gần 5.000 máy dệt tạo việc làm cho hơn 30.000 người; làng dệt đũi Nam Cao với hơn 2.700 khung dệt và gần 10.000 lao động; làng mây tre đan Thượng Hiền với 1.233 hộ, giá trị sản xuất năm 2020 đạt 92,4 tỷ đồng (tăng 20% so với năm 2019).
  • Làm rõ các hạn chế mang tính điểm nghẽn của chính sách: rào cản tài sản thế chấp tín dụng, đào tạo nghề thiếu kỹ năng quản trị, xúc tiến thương mại phụ thuộc trung gian và sự thiếu vắng các công cụ kinh tế trong kiểm soát môi trường (chưa áp thuế tài nguyên - môi trường, chưa lập quỹ môi trường).

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã cụ thể hóa khung phân tích chính sách công vào bối cảnh nông thôn tỉnh Thái Bình, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá chính sách gồm 5 tiêu chí rõ ràng. Đồng thời, công trình đề xuất được các định mức giải pháp có tính hành động cao như: đề xuất mức hỗ trợ 70% kinh phí xúc tiến thương mại hội chợ; cơ chế cấp chứng chỉ hành nghề nghề truyền thống cấp tỉnh; mô hình đại lý tín dụng qua hộ cá thể; và phương án tăng vốn cho Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận dừng lại ở việc tổng hợp, đánh giá chính sách dựa trên số liệu thứ cấp được công bố bởi các cơ quan quản lý (Sở Công Thương, UBND tỉnh Thái Bình) đến mốc thời gian tháng 8/2021. Đề tài chưa triển khai được các cuộc điều tra khảo sát xã hội học diện rộng bằng bảng hỏi định lượng trực tiếp tới từng chủ hộ, thợ thủ công và doanh nghiệp làng nghề để đo lường mức độ tiếp cận và tỷ lệ giải ngân thực tế của từng gói hỗ trợ.

Tại mục 3.4 (trang 45 của văn bản), tác giả đã xác định những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, bao gồm việc theo dõi tác động lâu dài của việc hình thành 49 cụm công nghiệp làng nghề đối với môi trường và sinh kế nông thôn; hoàn thiện các mô hình định lượng đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách hỗ trợ theo từng ngành nghề chuyên biệt (dệt may, chạm bạc, mây tre đan, chế biến thực phẩm); và nghiên cứu thể chế hóa cơ chế vận hành của các quỹ đầu tư rủi ro, quỹ bảo lãnh tín dụng dành riêng cho khu vực làng nghề địa phương.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Chính sách công và Nông nghiệp - Nông thôn khi nghiên cứu về công cụ quản lý nhà nước đối với kinh tế làng nghề.
  • Cán bộ quản lý tại Sở Công Thương, Chi cục Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế - Hạ tầng cấp huyện tại Thái Bình và các địa phương có nét tương đồng trong việc rà soát tiêu chí công nhận làng nghề, xây dựng phương án di dời sản xuất vào cụm công nghiệp.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm: Hệ thống tiêu chí đánh giá chính sách tại Chương 1; bảng tổng hợp số liệu phân bố 141 làng nghề và cơ cấu doanh nghiệp làng nghề theo huyện/thành phố tại Chương 2; và bản kiến nghị giải pháp tín dụng, xúc tiến thương mại (đặc biệt là đề xuất cơ chế hỗ trợ 70% chi phí hội chợ và Quỹ bảo lãnh tín dụng) tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo số liệu rà soát đến tháng 8/2021 của Sở Công Thương Thái Bình, số lượng làng nghề thay đổi như thế nào so với năm 2016?
Năm 2016, toàn tỉnh Thái Bình có 245 làng nghề. Đến tháng 8/2021, sau khi rà soát và đánh giá lại các tiêu chí, toàn tỉnh chỉ còn 141 làng nghề duy trì hoạt động và đáp ứng đủ tiêu chuẩn, chính thức loại bỏ 106 làng nghề do không đạt tiêu chuẩn hoặc gây ô nhiễm môi trường.

2. Khối doanh nghiệp và hợp tác xã trong làng nghề tỉnh Thái Bình có quy mô và đóng góp kinh tế ra sao trong năm 2020?
Tính đến ngày 31/8/2021, các làng nghề tại Thái Bình có 843 doanh nghiệp và hợp tác xã (chiếm 21,4% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh) với 58.727 lao động. Trong năm 2020, khối này đạt tổng doanh thu 15.667 tỷ đồng và nộp ngân sách nhà nước 201 tỷ đồng. Thành phố Thái Bình có số lượng doanh nghiệp làng nghề lớn nhất với 289 đơn vị (chiếm gần 34%).

3. Khóa luận chỉ ra những rào cản then chốt nào khiến các cơ sở làng nghề khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi?
Rào cản lớn nhất là cơ chế vay vốn bắt buộc phải có tài sản thế chấp trong khi phần lớn hộ sản xuất có vốn tự có thấp, thiếu tài sản giá trị để cầm cố và không có người bảo lãnh. Thêm vào đó, năng lực lập dự án sản xuất kinh doanh của cơ sở còn yếu, hạn mức cho vay ưu đãi của các chương trình còn thấp, lãi suất chưa thực sự cạnh tranh và thủ tục hành chính của các tổ chức tín dụng còn phức tạp.

4. Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện những chính sách môi trường và hỗ trợ nào mà Thái Bình có thể học hỏi?
Hà Nội hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng trạm xử lý nước thải đầu mối tại làng nghề, tài trợ 100% kinh phí xây dựng thương hiệu (tối đa 100 triệu đồng) và hỗ trợ 50% cước vận chuyển dự hội chợ tại miền Trung, miền Nam. Bắc Ninh ban hành các quy chế bảo vệ môi trường làng nghề gắn với lưu vực sông Cầu, hỗ trợ kinh phí điểm tập kết rác thải nông thôn và quy hoạch đưa các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư vào các cụm công nghiệp tập trung.

5. Khóa luận đề xuất những chỉ tiêu định lượng cụ thể nào cho phát triển làng nghề tỉnh Thái Bình đến năm 2025?
Các chỉ tiêu gồm: hoàn thành quy hoạch và khai thác 49 cụm công nghiệp làng nghề; nâng doanh thu làng nghề lên 15.000 tỷ đồng (tăng trưởng bình quân 30–35%/năm); giải quyết việc làm cho 60.000 lao động nông thôn hàng năm; đạt tỷ lệ 80% làng nghề có môi trường trong sạch, 100% cụm công nghiệp làng nghề có trạm xử lý chất thải tập trung và 100% cơ sở mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Thị Thúy đã phản ánh một cách toàn diện thực trạng chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2016–2021, giai đoạn chứng kiến sự sụt giảm từ 245 xuống còn 141 làng nghề đủ tiêu chuẩn. Công trình làm rõ những bất cập về thủ tục thế chấp tín dụng, tính dàn trải trong xúc tiến thương mại, sự thiếu hụt đào tạo năng lực quản trị và hạn chế trong các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường. Các nhóm giải pháp đề xuất gắn chặt với mục tiêu xây dựng 49 cụm công nghiệp làng nghề và nâng cao hiệu quả các quỹ tài chính địa phương đến năm 2025. Đây là tài liệu nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với công tác hoạch định và thực thi chính sách phát triển kinh tế nông thôn tại tỉnh Thái Bình.