Chương 1: Khái quát chung về quấy rối tình dục tại nơi làm việc và sự điều chỉnh của pháp luật. Chương 2: Thực trạng pháp luật về quấ y rố i tình du ̣c tại nơi làm việc ở Việt Nam. Chương 3: Mô ̣t số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quấ y rố i tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẤY RỐI TÌNH DỤC TẠI NƠI LÀM VIỆC VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1.
Khái niệm quấ y rố i tin ̀ h du ̣c tại nơi làm việc Có rất nhiều khái niệm gần giống với “quấy rối tình dục” và có thể được sử dụng thay thế cho “quấy rối tình dục”, nhất là trong các văn bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt như “quấy nhiễu tình dục”, “sách nhiễu tình dục”… Nhưng về bản chất thì các khái niệm trên đều mang một ý nghĩa giống như nhau. Khái niệm quấy rối tình dục là một cụm từ ghép. Theo định nghĩa tại cuốn Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, “Quấy rối” là một động từ, có nghĩa là “Làm cho rối loạn, mất sự yên ổn, bình lặng”. Khi được kết hợp với cụm từ “Tình dục”, ta có khái niệm “Quấy rối tình dục”.
Có thể hiểu rằng, quấy rối tình dục là một hình thức quấy nhiễu đặc biệt mà hướng về giới tính của người có liên quan. Quấy rối tình dục một người là làm cho người đó khó chịu, không thoải mái về tâm lý, bị ức chế có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, công việc. Khái niệm quấy rối tình dục theo cách hiểu của chúng ta ngày nay ra đời khá muộn vào những năm 1970. Trong khi các khái niệm liên quan đến quấy rối tình dục đã tồn tại rất lâu trước đó trong nhiều nền văn hóa.
“Sự sách nhiễu tình dục” (sexual harassment) là thuật ngữ đầu tiên được sử dụng vào năm 1973 trong cuốn sách Saturn’s ring của tác giả Mary Rowe. Tuy nhiên, Rowe đã tuyên bố rằng cô tin rằng cô không phải là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này, vì quấy rối tình dục đã được thảo luận trong nhóm phụ nữ ở Massachusetts trong đầu những năm 19703.org/wiki/Wikipedia 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn sách “Hồi ký của một cuộc cách mạng” (1999). Nhà báo Susan Brownmiller trích dẫn rằng các nhà hoạt động của trường đại học Cornell vào năm 1975 nghĩ rằng họ đã đặt ra thuật ngữ quấy rối tình dục. Họ đã đề cập đến nó như là "Đe dọa tình dục”,''Cưỡng ép tình dục”, ''Bóc lột tình dục trong công việc”4.
Trước và sau khi khái niệm quấy rối tình dục ra đời đã có rất nhiều cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ và đòi thi hành các đạo luật về chống quấy rối tình dục nói chung và quấy rối tình dục tại nơi làm việc nói riêng. Mặc dù ra đời khá muộn, nhưng khái niệm “quấy rối tình dục” được nhắc đến trong các cuốn sách như trên mới chỉ đề cập đến quấy rối tình dục dưới phương diện khoa học, nghiên cứu xã hội. Để khái niệm này được đề cập dưới phương diện pháp luật thì phải đến những năm của thập niên 80 – 90 của thế kỷ 20 (tuy nhiên tại thời điểm này thì khái niệm “quấy rối tình dục” trong các văn bản pháp lý vẫn còn ở mức manh nha), khi mà các công ước của Liên hợp quốc đã sớm đề cập đến việc chống phân biệt đối xử. Ngoài nhiều loại phân biệt đối xử đối với phụ nữ, trong đó có đề cập đến vấn đề phân biệt đối xử về giới, tuy nhiên cũng chưa có điều khoản nào quy định về chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
Năm 1979, Liên hợp quốc có công ước CEDAW về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống phụ nữ nhưng cũng chưa có điều khoản nào nêu rõ cấm quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Năm 1992, Ủy ban về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống phụ nữ của Liên hợp quốc trong khuyến nghị chung số 19 đưa ra định nghĩa: “Quấy rối tình dục bao gồm hành vi tình dục không được mong muốn như đụng chạm và tán tỉnh về thể xác, những bình luận mang sắc màu gợi dục, đưa cho xem sách báo khiêu dâm và bày tỏ đòi hỏi tình dục, dù bằng lời nói hay hành động. Hành vi như vậy có thể là hành vi làm nhục và có thể tạo 4 https://vi.org/wiki/Wikipedia 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành một vấn đề về an toàn và sức khỏe; hành vi này là phân biệt đối xử khi một phụ nữ có những lý do hợp lý để tin tưởng rằng sự phản đối của người phụ nữ đó sẽ gây bất lợi cho mình liên quan tới việc của mình, bao gồm cả tuyển dụng và thăng tiến hoặc khi hành vi này tạo ra một môi trường làm việc thù địch”5. Định nghĩa này làm nổi bật được một nội hàm của quấy rối tình dục là hành vi tình dục của một người mà không được đối phương đồng ý, mặc dù chưa nói rõ thế nào là hành vi tình dục và mặc dù đã có gắng nêu nhiều biểu hiện của quấy rối tình dục nhưng thật là khó có thể nêu hết.
Tuy nhiên, Khuyến nghị cũng nêu rõ “Bạo lực trên cơ sở giới là một hình thức của phân biệt đối xử cản trở nghiêm trọng khả năng của phụ nữ được hưởng các quyền và sự tự do trên cơ sở bình đẳng với nam giới”6. Khuyến nghị còn lưu ý rằng bình đẳng trong việc làm có thể bị hủy hoại nghiêm trọng khi phụ nữ là đối tượng của bạo lực trên cơ sở giới, chẳng hạn quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Các bên của Công ước phải thực hiện các biện pháp pháp lý hoặc biện pháp khác cần thiết để bảo vệ phụ nữ một cách hiệu quả chống bạo lực trên cơ sở giới, bao gồm tấn công và quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Liên minh châu Âu (EU) và Hội đồng châu Âu (COE) coi quấy rối tình dục là hành vi bất hợp pháp.
Ủy ban châu Âu của EU định nghĩa quấy rối tình dục là: “Hành vi không mong muốn của một bản chất tình dục, hoặc những hành vi khác dựa vào giới tính ảnh hưởng đến nhân phẩm của phụ nữ và nam giới trong công việc. Điều này bao gồm hành vi, bằng lời hoặc không lời không mong muốn”7 5 Khuyến nghị chung số 19 của Ủy ban về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống phụ nữ - Liên hợp quốc. 6 Khuyến nghị chung số 19 của Ủy ban về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống phụ nữ - Liên hợp quốc. 7 Ủy ban các cộng đồng châu Âu.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Không giống như định nghĩa quốc tế khác về quấy rối tình dục, Ủy ban châu Âu cũng phân biệt ba loại quấy rối tình dục: Quấy rối tình dục thể chất, lời nói, và không lời và nói rằng đó là một loạt các hành vi không thể chấp nhận: Tiến hành được xem là quấy rối tình dục nếu đó là không mong muốn, không đúng, gây khó chịu; nếu sự từ chối của nạn nhân hoặc chấp nhận các hành vi quấy rối gây ảnh hưởng đến các quyết định liên quan đến việc làm của mình hoặc tiến hành tạo ra một môi trường làm việc đáng sợ, thù địch hay nhục nhã cho người nhận8. Bên cạnh đó, cụm từ “quấy rối tình dục tại nơi làm việc” được sử dụng đầu tiên tại Công ước số 169 (1989) của Tổ chức lao động quốc tế ILO về những người bộ tộc bản địa. Công ước này ghi nhận quấy rối tình dục như là một hình thức phân biệt đối xử, quy định các Chính phủ nên thực hiện đến mức có thể để ngăn ngừa bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa những người lao động thuộc những nhóm người mà Công ước này áp dụng và những người lao động khác, bao gồm thực hiện những biện pháp để bảo đảm rằng họ được bảo vệ khỏi quấy rối tình dục. Theo Ủy ban chuyên gia (CEACR) của ILO thực hiện Điều tra đặc biệt năm 1996 về Công ước 111 (không phân biệt đối xử trong nghề nghiệp và việc làm) và Điều tra chung 1988 về Bình đẳng trong Việc làm và Nghề nghiệp, nhận định: “Quấy rối tình dục được xác định là một hình thức của phân biệt đối xử dựa trên giới tính; và quấy rối tình dục phá hoại sự bình đẳng tại nơi làm việc bằng cách gây ra vấn đề về đạo đức của cá nhân, phúc lợi của người lao động; quấy rối tình dục gây thiệt hại cho doanh nghiệp bằng cách làm suy yếu những nền tảng theo đó các mối quan hệ làm việc được xây dựng và làm giảm sút năng suất”9.
8 Ủy ban các cộng đồng châu Âu. 9 Ủy ban chuyên gia của Tổ chức lao động quốc tế 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ủy ban cũng cho rằng, để lên tới quấy rối tình dục thì hành vi quấy rối phải là một điều kiện để làm việc hoặc điều kiện tiên quyết cho quyết định tuyển dụng hoặc ảnh hưởng tới hiệu suất công việc. Từ đó, CEACR khuyến nghị các quốc gia đề cập quấy rối tình dục tại nơi làm việc trong phạm vi của Công ước 111. Tóm lại, quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hình thức quấy rối tình dục trong hoàn cảnh riêng biệt về thời gian, địa điểm: Thứ nhất, về địa điểm của quấy rối tình dục là : “Tại nơi làm việc”.
Phạm vi “Tại nơi làm việc”, ta không giới hạn ở nơi làm việc theo nghĩa của một không gian vật lý, trong đó công việc trả lương diễn ra trong tám tiếng mỗi ngày mà có thể được hiểu theo nghĩa rộng là phòng làm việc, nhà ăn tập thể, phòng tắm, phòng vệ sinh, phòng họp, phòng học, thư viện, câu lạc bộ của doanh nghiệp, cơ quan…Trong trường hợp công tác xa thì có thể là trên tàu, xe, nhà nghỉ, khách sạn nơi đến công tác… Ngoài ra, quấy rối tình dục tại nơi làm việc không nhất thiết phải xảy ra tại nơi làm việc mà có thể xảy ra bất cứ đâu liên quan đến công việc hoặc các mối quan hệ công việc.