Tổng quan nghiên cứu

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, sức mạnh mềm văn hóa ngày càng khẳng định vị thế chiến lược bên cạnh các công cụ kinh tế và quân sự truyền thống. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế của tác giả Lê Hoàng Diễm Linh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Phạm Minh Sơn tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), tập trung nghiên cứu đề tài "Quảng bá hình ảnh Việt Nam trong hoạt động ngoại giao văn hóa hiện nay". Công trình giải quyết câu hỏi trọng tâm: Làm thế nào để chuyển dịch hình ảnh Việt Nam từ một quốc gia kiên cường trong chiến tranh sang một đất nước hòa bình, năng động, sở hữu nền văn hóa đặc sắc và môi trường đầu tư hấp dẫn trên trường quốc tế.

Mục tiêu nghiên cứu là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng công tác quảng bá hình ảnh quốc gia qua ngoại giao văn hóa trong giai đoạn 2011 - 2016, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vị thế đất nước đến năm 2020 và tầm nhìn xa hơn. Khung thời gian nghiên cứu gắn liền với mốc triển khai Quyết định phê duyệt Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2020 được ban hành vào năm 2011. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong bối cảnh năm 2016 Việt Nam đón hơn 10 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 62 triệu lượt khách nội địa, đạt mức tăng trưởng GDP 6,21% và thu hút hơn 24,3 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách đối ngoại toàn diện, đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển bền vững của quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến" và truyền thống ngoại giao "mưu phạt tâm công". Về lý thuyết quan hệ quốc tế hiện đại, nghiên cứu tiếp cận thuyết Sức mạnh mềm (Soft Power) của Joseph Nye và lý thuyết Tiếp thị quốc gia (Nation Branding) của các học giả Philip Kotler, David Gertner, Louis T. Wells và Alvin G. Wint.

Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm nòng cốt:

  1. Quảng bá hình ảnh đất nước: Hoạt động truyền bá rộng rãi thông tin về đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, lịch sử và con người của một quốc gia đến công chúng toàn cầu nhằm xác lập nhận thức và thiện cảm tích cực.
  2. Ngoại giao văn hóa: Một trong ba trụ cột đối ngoại bên cạnh ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, sử dụng các công cụ văn hóa để bảo vệ lợi ích quốc gia và gia tăng ảnh hưởng quốc tế.
  3. Sức mạnh mềm: Năng lực đạt được mục tiêu thông qua sự lôi cuốn, hấp dẫn về giá trị văn hóa, hệ tư tưởng và chính sách đối ngoại thay vì cưỡng chế bằng quân sự hay kinh tế.
  4. Thương hiệu quốc gia: Tập hợp các giá trị cốt lõi, uy tín sản phẩm, môi trường đầu tư và di sản văn hóa định vị vị thế của đất nước trong tâm trí cộng đồng quốc tế.
  5. Mô hình 5 mũi nhọn ngoại giao văn hóa: Khung hành động biểu trưng qua hình tượng hoa đào 5 cánh gồm Mở đường, Xúc tác, Quảng bá, Vận động và Tiếp thu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp liên ngành trong quan hệ quốc tế, kết hợp giữa phân tích chính sách, phân tích văn bản pháp quy và phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study). Cỡ mẫu nghiên cứu định tính bao quát toàn bộ các sự kiện đối ngoại văn hóa tiêu biểu của Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2016, bao gồm các chuỗi sự kiện lớn như Năm chéo Việt - Pháp (2013 - 2014) với hơn 270 hoạt động song phương, các tuần lễ văn hóa tại Đan Mạch, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hà Lan, Ý và các sự kiện đa phương tầm cỡ như APEC.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện của dữ liệu đối ngoại trên cả phương diện song phương và đa phương. Tác giả tổng hợp, xử lý dữ liệu thứ cấp từ báo cáo chính thức của Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, hồ sơ di sản UNESCO và dữ liệu truyền thông quốc tế từ 28 cơ quan thông tấn báo chí thường trú tại Việt Nam. Phương pháp so sánh quốc tế được vận dụng thông qua việc đối chiếu mô hình ngoại giao văn hóa của các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm sát thực với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, ngoại giao văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2016 đã vận hành hiệu quả theo mô hình 5 mũi nhọn chiến lược, đóng vai trò "mở đường" và "xúc tác" giải quyết các bất đồng chính trị phức tạp. Điển hình như nghệ thuật ẩm thực qua "ngoại giao Phở" tại Hội nghị Ngoại trưởng APEC 2006 đã hóa giải bầu không khí căng thẳng giữa các bên, hay các sự kiện văn hóa nghệ thuật nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Đan Mạch (2011) và Việt Nam - Pháp (2013 - 2014).

Thứ hai, công tác vận động ngoại giao đa phương tại UNESCO đạt bước tiến nhảy vọt về số lượng và chất lượng. Tính đến năm 2016, Việt Nam đã xác lập vị thế với 8 Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới, 11 Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại, 6 Di sản Tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới và 9 Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới. Lần đầu tiên vào năm 2016, một chuyên gia Việt Nam là PGS. TS Nguyễn Thị Hiền đã được bầu vào Ban Tư vấn Di sản Văn hóa Phi vật thể của UNESCO, khẳng định năng lực hội nhập chuyên sâu của đội ngũ học thuật đối ngoại.

Thứ ba, sự kết hợp giữa ngoại giao văn hóa và xúc tiến kinh tế mang lại giá trị thương mại lớn. Chương trình Thương hiệu Quốc gia năm 2016 đã vinh danh 88 doanh nghiệp tiêu biểu; cùng năm đó, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư Việt Nam - Hong Kong đã thúc đẩy ký kết thành công 10 thỏa thuận thương mại với tổng trị giá lên tới 10 tỷ USD.

Thứ tư, phương thức truyền thông đối ngoại có bước chuyển biến mạnh mẽ về công nghệ. Đến đầu năm 2017, tỷ lệ người dân sử dụng Internet tại Việt Nam đạt 53%, tạo nền tảng vững chắc cho ngoại giao công chúng số. Mạng lưới 28 văn phòng báo chí nước ngoài với hơn 70 phóng viên thường trú tại Việt Nam đã truyền tải hàng nghìn tin bài mỗi năm ra thế giới; riêng hãng tin Reuters đã đăng tải khoảng 2.000 tin bài/năm về tình hình kinh tế và đời sống văn hóa Việt Nam.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng hiệu quả của ngoại giao văn hóa bắt nguồn từ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa chính sách nhà nước và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân trong vai trò "đại sứ văn hóa". Việc các đoàn làm phim quốc tế lớn như dự án phim bom tấn "Kong: Skull Island" (2016) chọn Tràng An, Vịnh Hạ Long và Phong Nha - Kẻ Bàng làm bối cảnh đã chứng minh tiềm năng quảng bá hình ảnh đất nước thông qua công nghiệp điện ảnh mang lại hiệu ứng lan tỏa nhanh hơn các phương thức truyền thống.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra một số điểm nghẽn: nguồn kinh phí dành cho ngoại giao văn hóa còn hạn chế so với các quốc gia trong khu vực như Hàn Quốc hay Thái Lan; cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng cộng đồng doanh nghiệp đôi khi còn rời rạc; các sản phẩm văn hóa xuất khẩu chưa định vị được thương hiệu đồng nhất trên quy mô toàn cầu.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu trong luận văn có thể được tổng hợp thành bảng thống kê so sánh tăng trưởng lượng khách quốc tế giai đoạn 2011 - 2016 gắn liền với các mốc công nhận di sản thế giới của UNESCO, đồng thời xây dựng biểu đồ cấu trúc thể hiện tác động tương hỗ giữa 5 cánh hoa ngoại giao (Mở đường - Xúc tác - Quảng bá - Vận động - Tiếp thu) đối với chỉ số thu hút vốn FDI và tăng trưởng thương mại quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và kinh nghiệm quốc tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Hoàn thiện thể chế và xây dựng Chiến lược Thương hiệu Quốc gia đồng bộ:

    • Hành động: Thành lập Ủy ban Điều phối Ngoại giao Văn hóa Quốc gia nhằm kết nối thống nhất giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
    • Mục tiêu: Nâng chỉ số giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam tăng từ 5 đến 10 bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu.
    • Lộ trình: Hoàn thành khung pháp lý và quy chế phối hợp trong giai đoạn 2021 - 2023.
    • Chủ thể thực hiện: Thủ tướng Chính phủ, Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp với các bộ, ban, ngành liên quan.
  2. Đẩy mạnh chuyển đổi số và truyền thông đa phương tiện trên không gian mạng:

    • Hành động: Xây dựng hệ sinh thái cổng thông tin đối ngoại đa ngôn ngữ, số hóa 100% dữ liệu di sản văn hóa vật thể và phi vật thể bằng công nghệ thực tế ảo (VR/AR), kết hợp quảng bá trên các nền tảng mạng xã hội lớn.
    • Mục tiêu: Tăng tỷ lệ tiếp cận công chúng quốc tế trên không gian số lên trên 80%, thu hút thêm 15% lượng khách du lịch trẻ thế hệ Gen Z.
    • Lộ trình: Triển khai thử nghiệm trong 12 tháng đầu và phủ sóng toàn diện trong giai đoạn 2022 - 2025.
    • Chủ thể thực hiện: Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Đối ngoại Trung ương và các tập đoàn công nghệ.
  3. Đa dạng hóa nguồn lực tài chính qua mô hình hợp tác công - tư (PPP):

    • Hành động: Xây dựng cơ chế ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp tài trợ sự kiện Tuần lễ Văn hóa Việt Nam tại nước ngoài và đầu tư sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa xuất khẩu (điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật).
    • Mục tiêu: Huy động nguồn vốn xã hội hóa chiếm 35% đến 40% tổng kinh phí tổ chức các hoạt động xúc tiến văn hóa đối ngoại thường niên.
    • Lộ trình: Thí điểm từ năm 2022 và nhân rộng quy mô vào năm 2024.
    • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng các hiệp hội ngành nghề.
  4. Đào tạo nhân lực ngoại giao chuyên nghiệp và phát huy vai trò cộng đồng kiều bào:

    • Hành động: Chuẩn hóa chương trình bồi dưỡng kỹ năng ngoại giao công chúng và quan hệ công chúng (PR) quốc tế cho 100% cán bộ tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; thành lập mạng lưới "Sứ giả Văn hóa Việt" trong cộng đồng hơn 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài.
    • Mục tiêu: Tổ chức định kỳ ít nhất 2 sự kiện văn hóa tiêu biểu/năm tại mỗi địa bàn có cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam.
    • Lộ trình: Thực hiện liên tục trong giai đoạn 2021 - 2030.
    • Chủ thể thực hiện: Học viện Ngoại giao, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Nhà hoạch định chính sách và cán bộ đối ngoại: Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và cơ sở khoa học để cán bộ tại Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng các đề án ngoại giao văn hóa, tối ưu hóa các chiến dịch vận động di sản quốc tế.
  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Quan hệ quốc tế, Ngoại giao, Báo chí: Tài liệu là nguồn tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống khái niệm chuẩn hóa, khung lý thuyết sức mạnh mềm cập nhật và phương pháp nghiên cứu liên ngành phục vụ giảng dạy, viết khóa luận và luận văn thạc sĩ.
  3. Doanh nghiệp xuất khẩu, du lịch và truyền thông thương hiệu: Giúp các nhà quản trị doanh nghiệp ứng dụng mô hình tiếp thị quốc gia (Nation Branding) vào việc định vị sản phẩm hàng hóa dịch vụ Việt Nam, tận dụng các chương trình xúc tiến ngoại giao cấp nhà nước để mở rộng thị trường quốc tế.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội kiều bào: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về phương thức tổ chức sự kiện văn hóa cộng đồng, tạo cầu nối thắt chặt tinh thần hướng về cội nguồn và bảo tồn bản sắc dân tộc Việt Nam tại nước sở tại.

Câu hỏi thường gặp

Ngoại giao văn hóa giữ vị trí như thế nào trong nền ngoại giao toàn diện Việt Nam?

Từ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 25 năm 2006, ngoại giao văn hóa đã được xác định là một trong ba trụ cột chính của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam. Trong cấu trúc này, ngoại giao chính trị giữ vai trò định hướng, ngoại giao kinh tế là nền tảng vật chất, còn ngoại giao văn hóa đóng vai trò nền tảng tinh thần kết nối bền vững.

Giai đoạn 2011 - 2016 Việt Nam đã đạt những thành tựu di sản quốc tế nào?

Trong giai đoạn 2011 - 2016, Việt Nam được UNESCO công nhận Di sản Thế giới Thành Nhà Hồ (2011), Quần thể Tràng An (2014) và 6 Di sản Văn hóa Phi vật thể (Hát Xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Đờn ca tài tử Nam Bộ, Dân ca Ví Giặm, Trò chơi Kéo co, Thờ Mẫu Tam phủ), cùng nhiều di sản tư liệu thế giới.

Mô hình 5 mũi nhọn trong ngoại giao văn hóa Việt Nam gồm những nội dung gì?

Mô hình được biểu trưng qua bông hoa đào 5 cánh gồm: Mở đường (tạo dựng quan hệ ban đầu), Xúc tác (thúc đẩy hợp tác chính trị - kinh tế), Quảng bá (giới thiệu bản sắc và thành tựu đất nước), Vận động (tranh thủ danh hiệu quốc tế và sự ủng hộ ngoại giao), và Tiếp thu (chắt lọc tinh hoa văn hóa, khoa học nhân loại).

Ẩm thực và nghệ thuật đã được ứng dụng như thế nào trong ngoại giao thực tế?

Tại Hội nghị Ngoại trưởng APEC 2006, nghệ thuật ẩm thực qua món phở truyền thống đã được sử dụng khéo léo để giải tỏa căng thẳng phòng họp. Năm 2016, việc hỗ trợ đoàn làm phim Hollywood quay bom tấn "Kong: Skull Island" tại Tràng An và Hạ Long đã tạo đòn bẩy truyền thông quốc tế vượt trội cho du lịch Việt Nam.

Doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò gì trong việc xây dựng thương hiệu quốc gia?

Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ mang dấu ấn quốc gia. Chương trình Thương hiệu Quốc gia năm 2016 với 88 doanh nghiệp tiêu biểu và các hợp đồng thương mại trị giá 10 tỷ USD tại Hong Kong cho thấy uy tín của doanh nghiệp tư nhân góp phần củng cố vị thế của nền kinh tế Việt Nam.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về sức mạnh mềm và tiếp thị quốc gia, làm sâu sắc bản chất ngoại giao văn hóa trong chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới.
  • Khẳng định vai trò thực tiễn vượt trội của Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2020 qua các dấu ấn UNESCO với 8 di sản thế giới, 11 di sản phi vật thể và đòn bẩy tăng trưởng 10 triệu lượt khách quốc tế năm 2016.
  • Đánh giá thẳng thắn các tồn tại về kinh phí, cơ chế phối hợp liên ngành và thương hiệu quốc gia, từ đó cung cấp góc nhìn đa chiều cho công tác quản trị đối ngoại.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao, gắn liền chỉ số đo lường cụ thể và phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước giai đoạn 2021 - 2030.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối về ứng dụng ngoại giao số (Digital Diplomacy) và công nghiệp văn hóa trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Hoàng Diễm Linh tại Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội để phục vụ công tác nghiên cứu học thuật và hoạch định chiến lược đối ngoại.