Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam (2009-2020)" được nghiên cứu sinh Lê Thu Trang thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Hồng Hạnh, thuộc chuyên ngành Quan hệ quốc tế (mã số 9310601.01), bảo vệ năm 2024.
Tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ những chuyển biến sâu sắc của bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh Lạnh. Giai đoạn này ghi nhận sự thay đổi nhận thức về văn hóa trong đời sống quan hệ quốc tế, với sự khẳng định mạnh mẽ các giá trị văn hóa và ngôn ngữ riêng biệt. Tác giả trích dẫn nhận định của Samuel P. Huntington về việc các nền văn minh phi phương Tây tái khẳng định giá trị văn hóa trong bối cảnh tương quan quyền lực chuyển dịch, từ đó tạo ra nhu cầu thúc đẩy hiểu biết quốc tế thông qua văn hóa. Ngoại giao văn hóa được các quốc gia nhìn nhận như một bộ phận của ngoại giao công chúng, một công cụ cải thiện hình ảnh, hỗ trợ dự đoán và phòng ngừa xung đột. Tại Việt Nam, yêu cầu hội nhập quốc tế đã đưa ngoại giao văn hóa trở thành một trong ba trụ cột của nền ngoại giao hiện đại. Mốc đánh dấu sự chuyển biến này diễn ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hội nghị Ngoại giao lần thứ 25 (năm 2006), khi ngoại giao văn hóa lần đầu tiên được xác định chính thức là một trụ cột bên cạnh ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế. Tiếp đó, Đại hội XI (năm 2011) chủ trương triển khai đồng bộ hoạt động đối ngoại, gắn kết chặt chẽ giữa các trụ cột ngoại giao. Năm 2008, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm phát động lấy năm 2009 là "Năm Ngoại giao Văn hóa". Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành hai văn bản định hướng: "Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2020" (phê duyệt năm 2011) và "Chiến lược Văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030" (phê duyệt năm 2015).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam gia tăng nhanh chóng về quy mô và có sự tham gia của nhiều bộ ngành, địa phương, các công trình khoa học hiện có trong nước chủ yếu dừng lại ở việc phản ánh hoạt động đơn lẻ hoặc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế; còn thiếu vắng những công trình khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống quá trình hoạch định và thực thi chính sách ngoại giao văn hóa từ góc độ chu trình chính sách đối ngoại trong giai đoạn bùng nổ 2009-2020.
Mục tiêu chung của luận án là làm rõ chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam giai đoạn 2009-2020, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được đánh số cụ thể gồm:
- Làm rõ nội hàm khái niệm ngoại giao văn hóa để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phân tích các nhân tố tác động làm cơ sở cho chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam giai đoạn 2009-2020.
- Phân tích nội dung và thực tiễn triển khai chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam.
- Đánh giá thành tựu, hạn chế, từ đó đưa ra khuyến nghị chính sách cho Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn 2009-2020, mốc khởi đầu từ khi Việt Nam chọn năm 2009 là Năm Ngoại giao Văn hóa và triển khai hai chiến lược quốc gia về ngoại giao văn hóa, văn hóa đối ngoại kéo dài đến năm 2020.
- Phạm vi không gian: Khảo sát các hoạt động ngoại giao văn hóa diễn ra tại không gian trong nước và tại các quốc gia trên thế giới có hoạt động của Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về ngoại giao văn hóa, tập trung vào các hoạt động và chiến lược cụ thể do Bộ Ngoại giao và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm chính.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại các tài liệu nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu lý luận về ngoại giao văn hóa trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt quốc tế, tác giả điểm lại công trình của Samuel P. Huntington (2007) Sự va chạm của các nền văn minh, chỉ rõ vai trò của văn hóa như nhân tố phân biệt các cộng đồng trong thế giới hậu Chiến tranh Lạnh; các nghiên cứu của Joseph Nye, Jr. (1990, 2002, 2004, 2009, 2011, 2014) về khái niệm quyền lực mềm, xác định văn hóa là một trong ba nguồn gốc cốt lõi tạo ra sức hấp dẫn phi cưỡng chế; công trình của J. Gienow-Hecht (2004) Culture and International History và cuốn sách Searching for Cultural Diplomacy (Gienow-Hecht và Donfried đồng biên tập, 2010) hệ thống hóa ba khuynh hướng định nghĩa ngoại giao văn hóa; công trình của N. Laos (2011) Foundations of cultural diplomacy tiếp cận nền tảng chuẩn mực và giá trị; cùng nghiên cứu của M. Luke về di sản và quyền lực mềm. Tại Việt Nam, nhóm lý luận gồm các bài viết và chuyên khảo của Nguyễn Hồng Sơn (2008), Vũ Dương Huân (2007, 2009 với cuốn Ngoại giao và Công tác Ngoại giao), Hoàng Vinh Thành (2009), Phạm Thái Việt (2009, 2012 với cuốn Ngoại giao văn hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng), và các bài phát biểu của Phạm Gia Khiêm (2008).
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về các yếu tố cấu thành nên ngoại giao văn hóa Việt Nam. Các nghiên cứu về bản sắc và giá trị truyền thống được tác giả khai thác từ Trần Văn Giàu (1980) Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam (chỉ ra 7 giá trị cốt lõi: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa); Trần Ngọc Thêm (1996) Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống - loại hình (xác định 5 đặc trưng: tính cộng đồng, tính ưa hài hòa, tính trọng âm, tính tổng hợp, tính linh hoạt); Phan Ngọc (1998) Bản sắc Văn hóa Việt Nam; Đào Duy Anh (1978) với 7 đặc điểm tính cách dân tộc; Claude Palazzoli với các khảo cứu về tâm lý, bản lĩnh người Việt; Ngô Đức Thịnh (2007) trên Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh văn hóa dân gian là cội nguồn của văn hóa dân tộc; cùng nghiên cứu của Smith và Akagawa (2009) về hệ thống bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể tại châu Á.
Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu về chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam. Luận án tổng hợp các văn kiện Đảng, tài liệu lưu trữ của Bộ Ngoại giao, và nghiên cứu của các học giả: Nguyễn Dy Niên (2008) Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; Vũ Anh Minh (2014); bài viết của Trần Thị Thu Hà (2012); kỷ yếu Hội thảo quốc gia năm 2008 với các tham luận của Nguyễn Mạnh Cầm, Vũ Khiêu, Phạm Sanh Châu, Trần Trọng Toàn; báo cáo của Phạm Sanh Châu (2014), Phạm Cao Phong (2012); và luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thùy Yên (2016) về ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết được xác định rõ: các tài liệu quốc tế tập trung gần như tuyệt đối vào các nước lớn có truyền thống lâu đời như Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, trong khi các nước đang phát triển với đặc thù mục tiêu và nguồn lực hạn chế chưa được khảo sát tương xứng; mối quan hệ giữa ngoại giao văn hóa, ngoại giao công chúng và quyền lực mềm chưa được phân định rành mạch trong bối cảnh Việt Nam; các nghiên cứu trong nước trước đây nặng tính mô tả sự kiện rời rạc, thiếu tính hệ thống dưới giác độ chính sách công để bao quát trọn vẹn cả chu trình từ hoạch định, triển khai đến lượng giá thành tựu và hạn chế trong giai đoạn 2009-2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm nền tảng:
- Khái niệm văn hóa: Phân tích hai hướng tiếp cận chính trong lịch sử học thuật. Hướng thứ nhất dựa trên sản phẩm cụ thể, tiêu biểu là định nghĩa của E.B. Tylor (1939) coi văn hóa là phức hợp gồm tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục; và Blumenthal (1940) với năm yếu tố (biểu tượng, ý tưởng, nhân cách, chức năng, mối quan hệ). Hướng thứ hai tiếp cận thao tác luận, tiêu biểu là định nghĩa của G.A. Lundberg nhìn nhận văn hóa là hành vi xã hội lặp lại nhằm thích nghi với môi trường. Kết hợp hai hướng, tác giả xác định bốn đặc trưng của văn hóa: do con người sáng tạo, có giá trị vật chất và tinh thần, có tính lịch sử và có tính đại diện cộng đồng.
- Khái niệm ngoại giao văn hóa: Tiếp cận từ ba hướng được Gienow-Hecht và Donfried tổng kết: (1) trao đổi văn hóa để thúc đẩy hiểu biết; (2) sử dụng văn hóa để gây ảnh hưởng đến công chúng và lãnh đạo nước ngoài; (3) tiến trình đa diện của chính trị văn hóa quốc tế phục vụ lợi ích quốc gia. Tại Việt Nam, tác giả xác định hai chiều kích: tương tác trong lĩnh vực văn hóa và chính sách sử dụng văn hóa làm công cụ đối ngoại. Khái niệm chính sách được dẫn từ Từ điển Bách khoa Việt Nam, từ đó định nghĩa chính sách ngoại giao văn hóa là tổng thể quan điểm, giải pháp, công cụ văn hóa do Nhà nước sử dụng nhằm thực thi nhiệm vụ ngoại giao.
- Nội hàm ngoại giao văn hóa: Luận án phân tích nội hàm gồm năm thành tố (được ví như năm cánh hoa anh đào theo tài liệu của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2010): mở đường cho ngoại giao chính trị và kinh tế; tham mưu, đồng hành và tháo gỡ khó khăn; quảng bá hình ảnh đất nước và con người; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; và vận động UNESCO công nhận các danh hiệu di sản.
- Mối quan hệ giữa ngoại giao văn hóa, ngoại giao công chúng và quyền lực mềm: Quyền lực mềm (theo Joseph Nye) là năng lực đạt được kết quả mong muốn thông qua sự hấp dẫn về văn hóa, giá trị chính trị và chính sách. Ngoại giao công chúng là phương thức tiếp cận công chúng nước ngoài của các chủ thể nhà nước và phi nhà nước. Bảng so sánh giữa ngoại giao công chúng và ngoại giao văn hóa được tác giả tổng hợp như sau:
| Tiêu chí |
Ngoại giao công chúng |
Ngoại giao văn hóa |
| Bản chất |
Luôn liên quan mật thiết với một mục đích chính trị xác định và nhắm tới những mục tiêu cụ thể. |
Không nhất thiết phải liên quan tới mục đích chính trị cụ thể nào. Bản chất không nhằm đe dọa hay gây tổn hại lợi ích quốc gia khác. |
| Mục tiêu |
Chủ động liên kết người dân với đất nước nhất định bằng cách hấp dẫn họ đến tham quan, học tập, đầu tư hoặc thỏa thuận chính trị. |
Nỗ lực tạo điều kiện trao đổi và truyền bá văn hóa ra thế giới bằng âm nhạc, nghệ thuật, triết học, giá trị. |
| Chủ thể |
Ngoài Bộ Ngoại giao còn có sự hợp tác với các tổ chức phi chính phủ (NGO), khu vực tư nhân, truyền thông, các bộ ngành khác. |
Chủ yếu do Nhà nước tổ chức, ủng hộ hoặc bảo trợ. |
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài triển khai phương pháp nghiên cứu định tính thuần túy trong khoa học xã hội và quan hệ quốc tế, bao gồm:
- Tiếp cận phân tích chính sách: Nghiên cứu chính sách ngoại giao văn hóa theo chu trình gồm ba khâu: cơ sở hoạch định, nội dung và thực tiễn triển khai, và đánh giá chính sách.
- Phỏng vấn chuyên gia: Thực hiện các buổi phỏng vấn sâu và thảo luận thông qua câu hỏi mở với các nhà nghiên cứu, cán bộ tham gia quá trình ra quyết định và thực thi chính sách tại Việt Nam (danh sách và bảng câu hỏi thể hiện tại Phụ lục 1).
- Nghiên cứu trường hợp: Lựa chọn Đề án "Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất ở nước ngoài" giai đoạn 2009-2019 của Bộ Ngoại giao làm ví dụ thực nghiệm điển hình.
- Phương pháp lịch sử (lịch đại): Phân tích dữ liệu thứ cấp nhằm làm rõ tiến trình vận động của ngoại giao văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và so sánh đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế (như Nhật Bản).
- Các phương pháp bổ trợ: Phân tích logic, so sánh, dự báo.
Nguồn tài liệu sơ cấp bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X, XI; Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998); Nghị quyết số 32 của Bộ Chính trị (1986); Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (1988); Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2020; Chiến lược Văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Sắc lệnh 65/SL (1945); các báo cáo tổng kết của Bộ Ngoại giao và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nguồn tài liệu thứ cấp gồm sách chuyên khảo, bài báo khoa học và các bài phỏng vấn chuyên gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài theo ba mạch nội dung: lý luận về ngoại giao văn hóa, các yếu tố cấu thành văn hóa Việt Nam, và chính sách ngoại giao văn hóa của Nhà nước Việt Nam. Luận điểm then chốt của chương là chỉ ra tính bất cập trong bức tranh học thuật hiện thời: phần lớn nghiên cứu quốc tế chú trọng các cường quốc phương Tây, coi ngoại giao văn hóa là công cụ cạnh tranh ảnh hưởng địa chính trị, trong khi đối với các quốc gia đang phát triển và quy mô trung bình hoặc nhỏ, ngoại giao văn hóa gắn liền với mục tiêu bảo vệ an ninh, tạo lập môi trường hòa bình để phát triển kinh tế và xác lập bản sắc dân tộc. Luận án khẳng định các nghiên cứu về Việt Nam trước đây chủ yếu dừng lại ở việc phản ánh các hoạt động bề nổi, thiếu vắng công trình phân tích từ góc độ chính sách đối ngoại một cách xuyên suốt trong giai đoạn 2009-2020. Đây là căn cứ khoa học xác lập tính cần thiết của đề tài.
Chương 2. Cơ sở lý luận và hoạch định của chính sách ngoại giao văn hoá Việt Nam
Chương 2 giải quyết cơ sở lý luận và các nhân tố quyết định việc định hình chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam.
- Về phương diện lý luận: Tác giả làm rõ các khái niệm văn hóa, ngoại giao, chính sách ngoại giao văn hóa, nội hàm 5 thành tố và bảng so sánh ranh giới chức năng giữa ngoại giao văn hóa và ngoại giao công chúng.
- Về nhân tố bên ngoài: Luận án phân tích xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển sau Chiến tranh Lạnh là môi trường quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho ngoại giao văn hóa nảy nở, đồng thời chỉ ra sự gia tăng cạnh tranh giữa các nước lớn từ thập niên thứ hai của thế kỷ XXI đòi hỏi chính sách đối ngoại phải nâng cao tính tự chủ.
- Về bản sắc văn hóa và con người Việt Nam: Phân tích ba lớp văn hóa chồng xếp lên nhau (lớp bản địa Đông Sơn - Sa Huỳnh - Đồng Nai; lớp giao lưu khu vực và Trung Hoa; lớp tiếp biến phương Tây). Nền văn hóa gốc nông nghiệp tạo dựng lối sống cộng đồng, trọng tình, ưa chuộng ứng xử hòa hiếu. Bản sắc đó kết tinh thành các đặc trưng: chủ nghĩa yêu nước, lòng nhân ái, khoan dung, ứng xử mềm dẻo. Truyền thống ngoại giao bang giao lịch sử thể hiện qua phương châm hòa hiếu, nhu viễn, "trong đế ngoài vương", "mưu phạt tâm công" thời Lý - Trần - Lê, phát triển thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến", và trường phái ngoại giao "cây tre Việt Nam".
- Về chính sách bảo tồn văn hóa trong nước: Khảo sát quá trình xây dựng thể chế từ Sắc lệnh số 65/SL (1945), Nghị định 517 (1957), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) đến Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi năm 2009) và Quyết định số 36/2005/QĐ-TTg lấy ngày 23/11 là Ngày Di sản văn hóa Việt Nam. Luận án cung cấp số liệu thực chứng: sau 7 năm thi hành Luật Di sản văn hóa (2002-2008), Việt Nam có 5 di sản thế giới, 2 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và 3.006 di tích quốc gia. Tính đến tháng 5/2023, Việt Nam đã được UNESCO ghi danh 8 Di sản thế giới, 15 Di sản văn hóa phi vật thể, 9 Di sản văn hóa tư liệu, 11 Khu dự trữ sinh quyển thế giới và 3 Công viên địa chất toàn cầu.
- Về sự chuyển biến đường lối đối ngoại: Điểm lại các mốc quan trọng từ Nghị quyết 32 Bộ Chính trị (1986), Nghị quyết 13 Bộ Chính trị (1988), Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992), Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) đến Đại hội XI (2011), phản ánh bước chuyển từ phá thế bao vây cô lập sang hội nhập toàn diện, đưa ngoại giao văn hóa trở thành trụ cột bình đẳng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế.
Chương 3. Nội dung và thực tiễn triển khai chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam giai đoạn 2009-2020
Chương 3 trình bày việc thể chế hóa văn bản và quá trình triển khai chính sách trong thực tế giai đoạn 2009-2020:
- Cơ sở pháp lý và sự ra đời của chiến lược: Năm 2009 được lựa chọn là "Năm Ngoại giao Văn hóa", tạo đà ban hành "Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2020" (2011) do Bộ Ngoại giao chủ trì và "Chiến lược Văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030" (2015) do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý.
- Nội dung chính sách: Xác định mục tiêu nâng cao vị thế đất nước, phục vụ an ninh và phát triển, thúc đẩy hình ảnh quốc gia thông qua các chương trình giao lưu, vận động danh hiệu và tiếp thu tinh hoa thế giới.
- Thực tiễn triển khai: Phân chia theo ba mảng hoạt động lớn:
- Thúc đẩy hoạt động và nâng cao vai trò của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế, trọng tâm là UNESCO và ASEAN, tích cực tham gia các công ước quốc tế và thực hiện hồ sơ di sản.
- Quảng bá thông tin, hình ảnh đất nước thông qua hệ thống cơ quan đại diện ở nước ngoài, các sự kiện Tuần/Ngày Việt Nam, truyền thông đối ngoại.
- Trao đổi văn hóa và các chương trình biểu diễn nghệ thuật định kỳ, sự kiện văn hóa giao lưu song phương và đa phương.
- Nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích Đề án "Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất ở nước ngoài" giai đoạn 2009-2019 do Bộ Ngoại giao chủ trì. Luận án khảo sát các nội dung dựng tượng đài, đặt bia tưởng niệm, đặt tên đường, trường học mang tên Bác tại các quốc gia; tổ chức các cuộc hội thảo, dịch và xuất bản các ấn phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ đó đánh giá kết quả triển khai và tác động của Đề án trong việc xây dựng hình ảnh đất nước gắn liền với biểu tượng danh nhân dân tộc.
Chương 4. Đánh giá, dự báo và khuyến nghị
Chương 4 tổng kết thực trạng và đề xuất giải pháp:
- Thành tựu của giai đoạn 2009-2020: Chính sách ngoại giao văn hóa đã được thể chế hóa bằng chiến lược cụ thể; nâng cao nhận thức của các cấp ngành; đóng góp quảng bá hình ảnh quốc gia, gia tăng số lượng di sản được quốc tế công nhận; gắn kết với ngoại giao chính trị và kinh tế; bước đầu xã hội hóa nguồn lực.
- Hạn chế và khó khăn: Nguồn kinh phí đầu tư còn hạn hẹp so với yêu cầu; cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các địa phương đôi lúc thiếu đồng bộ; nhận thức về bảo tồn di sản tại cơ sở còn bất cập dẫn đến tình trạng trùng tu sai lệch; các sản phẩm văn hóa đối ngoại chưa có chiều sâu thương mại và công nghiệp văn hóa; thiếu hụt đội ngũ cán bộ chuyên trách ngoại giao văn hóa được đào tạo bài bản.
- Dự báo bối cảnh đến năm 2030: Xu hướng số hóa, sự bùng nổ của mạng xã hội, vai trò gia tăng của các chủ thể phi nhà nước trong quan hệ quốc tế, và những cơ hội cũng như thách thức đối với việc thực thi "Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2030".
- Hệ thống khuyến nghị: Luận án đưa ra các nhóm giải pháp: hoàn thiện cơ chế điều phối chính sách cấp quốc gia; đa dạng hóa và quản lý hiệu quả nguồn lực tài chính, khuyến khích xã hội hóa có định hướng; đổi mới phương thức truyền thông số và xây dựng thương hiệu quốc gia gắn với công nghiệp văn hóa; tăng cường đào tạo chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác đối ngoại văn hóa.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về chính sách ngoại giao văn hóa dưới góc độ chuyên ngành Quan hệ quốc tế tại Việt Nam; làm rõ mối tương quan giữa quyền lực mềm, ngoại giao công chúng và ngoại giao văn hóa trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển; phân tích bản sắc văn hóa dân tộc và truyền thống ngoại giao hòa hiếu, phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" như là nguồn lực cấu thành nền tảng lý luận của chính sách đối ngoại hiện đại.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp cụ thể:
- Cung cấp nguồn tài liệu khoa học hệ thống hóa toàn bộ quá trình hình thành, nội dung và các bước chuyển biến của chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2020.
- Cung cấp tài liệu đánh giá toàn diện về những thành tựu đạt được và những điểm nghẽn hạn chế trong việc triển khai chính sách ngoại giao văn hóa của các bộ ngành và địa phương.
- Khảo sát thực chứng trường hợp Đề án "Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất ở nước ngoài" (2009-2019), rút ra các bài học kinh nghiệm trong việc sử dụng biểu tượng văn hóa để mở rộng quan hệ quốc tế.
- Đưa ra hệ thống khuyến nghị chính sách có tính ứng dụng thực tiễn, hỗ trợ Chính phủ, Bộ Ngoại giao và các cơ quan hữu quan trong việc xây dựng, hoàn thiện chương trình hành động chi tiết nhằm nâng cao chất lượng ngoại giao văn hóa trong giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu: Luận án chỉ ra rằng nguồn tư liệu về các hoạt động ngoại giao văn hóa tại Việt Nam còn trong tình trạng rời rạc, tản mạn ở nhiều cơ quan khác nhau và chưa được số hóa đầy đủ; các công trình nghiên cứu đi trước tại Việt Nam còn hạn chế về số lượng nên cơ sở dữ liệu đối sánh học thuật chưa thật phong phú; phạm vi phân tích chủ yếu tập trung vào cấp quản lý trung ương (Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và một nghiên cứu trường hợp cụ thể, chưa thể bao quát chi tiết toàn bộ các hoạt động văn hóa đối ngoại của 63 tỉnh thành trên toàn quốc.
Hướng nghiên cứu tiếp: Từ những giới hạn về phạm vi và tư liệu, tác giả gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: khảo sát sâu hơn sự tham gia của khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ vào ngoại giao văn hóa; đánh giá định lượng tác động kinh tế - xã hội của các di sản được UNESCO công nhận đối với địa phương; nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin và ngoại giao số trong việc quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới; và theo dõi, đánh giá việc thực hiện Chiến lược Ngoại giao văn hóa Việt Nam đến năm 2030.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các ngành Quan hệ quốc tế, Ngoại giao, Chính sách công, Văn hóa học, Việt Nam học: có thể sử dụng khung lý luận về chu trình chính sách, nội hàm năm cánh hoa anh đào và bảng so sánh ranh giới ngoại giao công chúng - ngoại giao văn hóa để phục vụ giảng dạy và học tập.
- Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: tham khảo phần tổng kết thực trạng và hệ thống khuyến nghị để hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành cũng như xây dựng chương trình hành động cho các chiến lược giai đoạn mới.
- Cán bộ làm công tác đối ngoại tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và cán bộ đối ngoại tại các địa phương: tham khảo các bài học triển khai từ Đề án tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài và phương thức phối hợp với tổ chức UNESCO để nâng cao tính bài bản trong công tác quản lý và tổ chức sự kiện.
Câu hỏi thường gặp
1. Ngoại giao văn hóa được chính thức xác định là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam từ thời điểm nào?
Ngoại giao văn hóa được nêu bật và chính thức công nhận là một trong ba trụ cột quan trọng (cùng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hội nghị Ngoại giao lần thứ 25 vào năm 2006.
2. Năm nội hàm cơ bản của ngoại giao văn hóa Việt Nam được luận án trình bày gồm những nội dung gì?
Năm nội hàm (được ví như năm cánh hoa anh đào) gồm: (1) Mở đường cho các hoạt động ngoại giao chính trị và kinh tế; (2) Tham mưu, đồng hành và giải quyết các khó khăn, rào cản trong quan hệ quốc tế; (3) Quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa và con người ra thế giới; (4) Thúc đẩy quá trình tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới; (5) Đóng vai trò nòng cốt trong công tác vận động UNESCO công nhận các danh hiệu di sản.
3. Sự khác nhau căn bản giữa ngoại giao văn hóa và ngoại giao công chúng theo tổng hợp của tác giả là gì?
Ngoại giao công chúng luôn gắn với mục đích chính trị xác định, chủ động liên kết công chúng nước ngoài với quốc gia thông qua các thỏa thuận chính trị, tham quan, học tập và có sự tham gia sâu của các chủ thể phi nhà nước (NGO, doanh nghiệp). Ngược lại, ngoại giao văn hóa không nhất thiết phải trực tiếp gắn với một mục đích chính trị cụ thể, bản chất không mang tính cưỡng ép hay đe dọa, chủ yếu tập trung tạo điều kiện trao đổi, truyền bá các giá trị nghệ thuật, triết học và do Nhà nước đứng ra tổ chức hoặc bảo trợ.
4. Tính đến tháng 5/2023, Việt Nam đã đạt được những danh hiệu và di sản nào được UNESCO công nhận theo số liệu của văn bản?
Theo số liệu thống kê trong luận án, tính đến tháng 5/2023, Việt Nam đã được UNESCO ghi nhận: 8 Di sản thế giới, 15 Di sản văn hóa phi vật thể, 9 Di sản văn hóa tư liệu, 11 Khu dự trữ sinh quyển thế giới, 3 Công viên địa chất toàn cầu, cùng nhiều danh hiệu đô thị khác (Thành phố sáng tạo, Thành phố học tập toàn cầu).
5. Đề án thực tế nào được tác giả lựa chọn làm nghiên cứu trường hợp điển hình trong Chương 3?
Tác giả đã lựa chọn Đề án "Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất ở nước ngoài" giai đoạn 2009-2019 do Bộ Ngoại giao chủ trì làm nghiên cứu trường hợp điển hình để đánh giá thực tiễn thực thi chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thu Trang đã thực hiện việc hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và tiến trình triển khai chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam trong giai đoạn 2009-2020. Bằng cách tiếp cận phân tích chính sách kết hợp phỏng vấn chuyên gia và khảo sát nghiên cứu trường hợp thực tế, công trình đã làm rõ những chuyển biến về thể chế, sự phối hợp giữa ba trụ cột ngoại giao và các mảng hoạt động đối ngoại văn hóa tiêu biểu. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về nguồn lực, cơ chế liên ngành và quản lý di sản, qua đó cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng phục vụ quá trình triển khai Chiến lược Ngoại giao văn hóa Việt Nam đến năm 2030.