Tổng quan nghiên cứu

Năm 2016, ngành du lịch Việt Nam đạt doanh thu khoảng 400 nghìn tỷ đồng, đóng góp xấp xỉ 6,6% vào GDP cả nước. Tại tỉnh Hà Giang, năm 2017 ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc với hơn 1 triệu lượt khách tham quan, tăng 20% so với năm 2016. Là vùng đất địa đầu Tổ quốc sở hữu đường biên giới dài hơn 274 km và 22 dân tộc cùng sinh sống, Hà Giang nắm giữ nguồn tài nguyên du lịch độc đáo với Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn được UNESCO công nhận năm 2010 và Di tích quốc gia Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì được xếp hạng năm 2012.

Tuy nhiên, công tác truyền thông du lịch của tỉnh vẫn đối mặt với nhiều rào cản: nội dung thông tin còn mang tính một chiều, thiếu các bài viết phân tích chuyên sâu và hình thức thể hiện chưa thực sự hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học của tác giả Nguyễn Tiến Lâm, thực hiện năm 2019 dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Trần Bá Dung tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết toàn diện vấn đề này.

Mục tiêu trọng tâm của đề tài là khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông du lịch trên hệ thống báo chí tỉnh Hà Giang từ tháng 01/2017 đến tháng 01/2018. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng thông tin, tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương và thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng lượng khách du lịch bền vững từ 15% đến 20% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý luận báo chí cách mạng theo quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xem tuyên truyền là hoạt động có mục đích nhằm biến tri thức, đường lối thành nhận thức và hành động thực tiễn với tiêu chí cốt lõi: nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp lý thuyết truyền thông tiếp thị và xúc tiến du lịch hiện đại theo định hướng của Luật Du lịch năm 2005 và Nghị quyết số 45/CP của Chính phủ.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm trung tâm:

  1. Tuyên truyền du lịch: Hoạt động truyền bá quan điểm, chủ trương và kiến thức nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn di sản và phát triển kinh tế.
  2. Quảng bá du lịch: Hoạt động xúc tiến, lan tỏa hình ảnh điểm đến nhằm thu hút du khách và nhà đầu tư.
  3. Tài nguyên du lịch: Tập hợp các giá trị tự nhiên và nhân văn có khả năng tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù.
  4. Du lịch bền vững: Mô hình phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng của các thế hệ tương lai theo chuẩn mực của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Quốc tế năm 1996.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ văn bản quản lý nhà nước, số liệu thống kê du lịch và các tác phẩm báo chí phát hành trong 12 tháng, từ tháng 01/2017 đến tháng 01/2018. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học với quy mô mẫu 500 phiếu hỏi.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được thực hiện trên 2 địa bàn trọng điểm: tỉnh Hà Giang (khảo sát công chúng bản địa, nhà báo và cán bộ quản lý) và Thủ đô Hà Nội (khảo sát nguồn du khách tiềm năng lớn nhất). Lý do lựa chọn kết hợp điều tra bảng hỏi với phương pháp phỏng vấn sâu các lãnh đạo báo đài và chuyên gia du lịch là nhằm tạo ra sự đối chiếu đa chiều, kiểm chứng khoa học giữa chủ đích truyền thông của cơ quan báo chí và mức độ tiếp nhận thực tế của công chúng. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp phân tích nội dung, thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ và mô hình phân tích SWOT.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn hệ thống báo chí Hà Giang trong giai đoạn 2017 - 2018 đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, cơ cấu chủ đề có sự phân hóa rõ rệt. Nội dung giới thiệu tiềm năng tự nhiên, danh lam thắng cảnh và bản sắc văn hóa chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 49,3% tổng số tác phẩm. Ngược lại, mảng thông tin về hoạt động kinh doanh du lịch và chuyển dịch cơ cấu ngành chỉ chiếm khoảng 19,5% đến 20%, trong khi thông tin liên kết vùng chỉ đạt dưới 10%.

Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật và quy mô phát hành có bước phát triển ổn định nhưng hình thức thể hiện còn đơn điệu. Báo Hà Giang duy trì phát hành 5 kỳ mỗi tuần với số lượng 8.000 đến 8.500 bản mỗi kỳ, cùng ấn phẩm Hà Giang Cực Bắc đạt 3.000 bản mỗi kỳ. Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Giang duy trì cột ăng-ten cao 117m, công suất phát thanh 2KW và thời lượng chương trình địa phương 60 phút mỗi ngày. Dù vậy, khoảng 65% tác phẩm vẫn sử dụng thể loại tin ngắn và bài phản ánh đơn thuần, thiếu vắng các phóng sự điều tra, ký sự ảnh và đồ họa thông tin hiện đại.

Thứ ba, hiệu quả tác động đến công chúng ngoài tỉnh còn hạn chế. Trong tổng số 500 người được khảo sát, có tới 88% biết đến các địa danh nổi tiếng như Dinh họ Vương, Cột cờ Lũng Cú, Chợ tình Khâu Vai. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 35% du khách tại Hà Nội tiếp cận thông tin thông qua báo chí địa phương Hà Giang, phần còn lại tiếp nhận qua mạng xã hội và kênh truyền thông trung ương.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực chuyên trách còn khoảng cách so với yêu cầu. Đội ngũ phóng viên theo dõi mảng du lịch phần lớn kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực, thiếu phóng viên có chuyên môn sâu về kinh tế du lịch và ngoại ngữ để xây dựng nội dung quảng bá quốc tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các hạn chế xuất phát từ việc cơ quan báo chí chưa xây dựng quy hoạch nội dung dài hạn cho mảng kinh tế du lịch, ngân sách đầu tư cho các tuyến bài đa phương tiện còn eo hẹp. Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Văn Công Toán năm 2000 tại Thừa Thiên Huế hay Trần Thị Thảo năm 2011 tại Ninh Bình, báo chí Hà Giang đã làm rất tốt chức năng lưu giữ văn hóa truyền thống nhưng chưa theo kịp tốc độ số hóa trong tiếp thị điểm đến.

Các dữ liệu khảo sát có thể được mô tả hiệu quả qua biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ trọng 49,3% nội dung quảng bá tài nguyên so với 19,5% nội dung kinh tế du lịch, kết hợp với bảng tần số thể hiện mức độ hài lòng của độc giả. Điều này khẳng định báo chí địa phương cần chuyển đổi mạnh mẽ từ lối tuyên truyền cổ động truyền thống sang phương thức truyền thông số tích hợp để gia tăng tính cạnh tranh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quảng bá du lịch trên báo chí Hà Giang, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  1. Đổi mới quy trình sản xuất nội dung số: Chuyển dịch mạnh sang các định dạng báo chí đa phương tiện như phóng sự ảnh chất lượng cao, video ngắn trải nghiệm, đồ họa thông tin và podcast du lịch. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tương tác trên nền tảng điện tử tăng thêm 40% trong lộ trình từ năm 2019 đến năm 2022. Chủ thể thực hiện: Ban Biên tập Báo Hà Giang và Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh.

  2. Đào tạo và chuẩn hóa đội ngũ phóng viên chuyên trách: Tổ chức định kỳ 2 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí du lịch mỗi năm cho 100% phóng viên mảng văn hóa - xã hội; tập trung nâng cao kỹ năng báo chí dữ liệu, ngoại ngữ và kiến thức bảo tồn di sản. Chủ thể thực hiện: Hội Nhà báo tỉnh Hà Giang phối hợp với các cơ sở đào tạo báo chí trung ương.

  3. Mở rộng liên kết truyền thông đa vùng: Thiết lập mạng lưới hợp tác trao đổi thông tin với các cơ quan báo chí tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng; duy trì ít nhất 15 chuyên trang, chuyên mục liên kết mỗi quý để lan tỏa thông tin điểm đến. Chủ thể thực hiện: Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang.

  4. Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa và tiếp nhận phản hồi: Thiết lập ngân hàng dữ liệu truyền thông mở về 22 dân tộc và danh lam thắng cảnh toàn tỉnh; tích hợp hệ thống đo lường mức độ hài lòng của du khách trực tuyến trong vòng 12 tháng. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang và Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan báo chí địa phương: Ban biên tập và phóng viên các tòa soạn báo tỉnh có thể ứng dụng khung phân tích thực trạng và mô hình đổi mới thể loại báo chí để tái cấu trúc chuyên mục du lịch, nâng cao lượng phát hành từ 8.000 bản lên các mức cao hơn.

  2. Cơ quan quản lý nhà nước: Lãnh đạo các Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có thêm căn cứ khoa học để hoạch định chính sách đặt hàng báo chí truyền thông, tối ưu hóa ngân sách xúc tiến du lịch công hàng năm.

  3. Giảng viên và học viên ngành Báo chí, Du lịch: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị, bộ khung phương pháp luận kết hợp khảo sát 500 mẫu thực tế và nguồn dữ liệu lịch sử phong phú về báo chí vùng cao.

  4. Doanh nghiệp lữ hành và dịch vụ du lịch: Giúp các đơn vị kinh doanh nắm bắt xu hướng tiếp nhận thông tin của du khách tại 2 thị trường trọng điểm Hà Giang và Hà Nội, từ đó xây dựng chiến lược liên kết quảng bá sản phẩm hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Báo chí Hà Giang đóng vai trò then chốt như thế nào đối với tăng trưởng du lịch địa phương? Báo chí thực hiện đồng thời 3 chức năng: định hướng chính sách, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ 22 di sản văn hóa bản địa, và quảng bá hình ảnh Công viên địa chất Đồng Văn đến hơn 1 triệu lượt du khách mỗi năm.

Tại sao nghiên cứu lại chọn khảo sát 500 phiếu tại cả Hà Giang và Hà Nội? Hà Giang đại diện cho chủ thể phát triển và nguồn tiếp nhận thông tin nội tỉnh, trong khi Hà Nội là trung tâm phân phối khách du lịch lớn nhất cả nước, giúp đánh giá chính xác độ lan tỏa của thông tin báo chí địa phương.

Rào cản lớn nhất của báo chí Hà Giang trong truyền thông du lịch giai đoạn 2017 - 2018 là gì? Hạn chế lớn nhất là sự mất cân đối nội dung khi có tới 49,3% bài viết thiên về mô tả cảnh quan tĩnh, trong khi tỷ lệ bài viết kinh tế, trải nghiệm dịch vụ và liên kết vùng chỉ đạt dưới 20%.

Luận văn đề xuất ưu tiên phát triển thể loại báo chí nào? Tác giả khuyến nghị giảm bớt các bản tin hành chính ngắn, ưu tiên đầu tư vào thể loại phóng sự truyền hình trải nghiệm 60 phút, ký sự ảnh chuyên sâu và tác phẩm đa phương tiện trực tuyến trên nền tảng báo điện tử.

Cơ quan quản lý nhà nước cần hỗ trợ gì để báo chí phát huy tối đa hiệu quả quảng bá? Cần xây dựng cơ chế đặt hàng truyền thông rõ ràng, cung cấp thông tin thống kê minh bạch và hỗ trợ kinh phí đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tiếp thị số cho đội ngũ người làm báo địa phương.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của báo chí địa phương đối với sự phát triển kinh tế du lịch tại tỉnh miền núi biên giới phía Bắc.
  • Đánh giá khách quan bức tranh truyền thông Hà Giang giai đoạn 2017 - 2018 thông qua khảo sát 500 phiếu thực nghiệm và phân tích dữ liệu phát hành 8.000 đến 8.500 bản mỗi kỳ.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn về cấu trúc nội dung khi mảng đề tài cảnh quan chiếm tới 49,3%, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức truyền thông số.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền lộ trình thực hiện cụ thể cho cơ quan báo chí, cơ quan quản lý và các hiệp hội nghề nghiệp.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối về ứng dụng trí tuệ nhân tạo và truyền thông xã hội trong việc cá nhân hóa trải nghiệm du lịch di sản tại Việt Nam.

Bạn đọc, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý quan tâm có thể khai thác trực tiếp toàn văn công trình nghiên cứu này tại Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội để phục vụ công tác chuyên môn và học thuật.