chương I, Luật du lịch ban hành năm 2005, “tuyên truyền quảng bả du lịch là hoạt động xúc tiến, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch ”[40, tr. 20 Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch là hoạt động cung cấp, truyền đạt thông tin tới khách du lịch, giúp họ biết đến các điểm du lịch, sản phẩm dịch vụ du lịch và lên kế hoạch tham gia các chương trình du lịch,trong hành trình tìm hiểu khám phá những điểm khác lạ. Khái quát điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tỉnh Hà Giang 1. Điều kiện tự nhiên Vé' vị trí địa lú.
Hà Giang có diện tích 7. Là một tỉnh miền núi cao nằm ở cực Bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Phía Bắc giáp với 2 tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc, phía Nam giáp với tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp với Yên Bái, Lao Cai, và phía Đông giáp với Cao Bằng. Hiện nay, tỉnh Hà Giang có 1 thành phố và 10 huyện với 195 xã, phường, trấn.
Có đường biên giới dài trên 274km tiếp giáp với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế và thu hút đầu tư đồng thời phát triển du lịch bề vững. Đặc điểm địa hình: Hà Giang là tỉnh có nhiều ngọn núi đá cao và sông suối với địa hình phong phú được chia thành 3 vùng: Vùng cao núi đá phía Bắc, bao gồm nhiều khu vực núi đá vôi nằm sát chí tuyến bắc có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều; Vùng cao núi đất phía tây, thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp; Vùng núi thấp địa hình ở đây là đồi núi thấp, thung lũng sông Lô càng xuống phía Nam càng được mở rộng. Khí hậu: Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống. Sâng ngòi: Hà Giang có mật độ sông - suối tương đối dày đặc.
Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều, độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác. Các sông lớn 21 bao gồm: Sông Lô, Sông Chảy, Sông Gâm. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư. Về phát triền thương mại, dịch vụ: Hà Giang có cặp cửa khẩu Quốc tế Thanh Thủy - Thiên; có 03 cặp cửa khẩu phụ gồm: Săm Pun - Điền Bồng, Phó Bảng - Đổng Cán, Xín Mần - Đô Long và 11 lối mở (đường qua lại biên giới).
Giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh trong những năm gần đây đạt trên 300 triệu USD/năm. Cơ sở hạ tầng ở các cửa khẩu, chợ đường biên đang được quy hoạch và từng bước đầu tư xây dựng tạo điều kiện cho dân cư 2 bên biên giới đi lại thuận lợi, hoạt động biên mậu và tiểu ngạch diễn ra phổ biến và dễ dàng. Tài nguyên và sản phẩm du lịch của tỉnh Hà Giang được thiên nhiên ưu đãi với nền văn hoá lâu đời thuộc niên đại đồ đồng Đông Sơn, có các di tích người tiền sử ở Bắc Mê, Mèo Vạc. Đây cũng là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống với 22 dân tộc, cùng nhiều phong tục tập quán, văn hoá truyền thống và những lễ hội rất sinh động, hấp dẫn du khách đến tham quan.
Ngoài ra, Hà Giang là quê hương của nhiều di tích lịch sử. Là nơi lưu giữ và bảo tồn một số di tích, di vật được đánh giá cao trong đó có “Tứ đại kỳ quan”: Cao nguyên đá Đông Văn, Dinh thự họ Vương, Cột cờ Lũng Cú và Con đường hạnh phúc. Cao nguyên đá Đồng Văn: Nằm trải rộng trên bốn huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc được công nhận là Công viên địa chất Toàn cầu vào năm 2010. Đây là một trong những vùng đá vôi đặc biệt, chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển vỏ Trái Đất, những hiện tượng tự nhiên, cảnh quan đặc sắc về thẩm mỹ, tính đa dạng sinh học cao và truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân bản địa như các dân tộc Mông, Lô Lô, Pu Péo, Dao.
22 Cao nguyên đá Đồng Văn cũng là nơi có nhiều di tích danh thắng quốc gia đã được công nhận như: Di tích kiến trúc nhà Vương, Cột cờ Lũng Cú, phố cổ Đồng Văn, đèo Mã Pì Lèng, núi Đôi Quản Bạ. Đồng Văn còn nổi tiếng về các loại hoa quả: đào, mận, lê, táo, hồng. và các loại dược liệu như tam thất, thục địa, hồi, quế. Hang Phương Thiện: Nằm cách Tp.
Hà Giang 7km xuôi về phía nam. Đây là nơi có nhiều phong cảnh, nhiều hang động tự nhiên. Động Tiên và Suối Tiên: Nằm cách Tp. Hà Giang 2km: Người dân quanh vùng vẫn thường đến Động Tiên lấy nước và cầu may mắn vào lúc giao thừa.
Hang Chui: Nằm cách Tp. Hà Giang 7km về phía nam, hang ăn sâu vào lòng núi khoảng lOOm. Cửa hang hẹp phải lách người mới qua được. Vào trong lòng hang mở rộng, vòm hang cao vút, nhiều nhũ đá.
Hang có nhiều dơi, có dòng suối dâng cao đổ xuống thành thác. Dinh họ Vương: Dinh Họ Vương thuộc xã Sà Phin là một công trình kiến trúc đẹp và độc đáo được xếp hạng cấp quốc gia năm 1993. Đường dẫn vào dinh được lát bằng những phiến đá lớn vuông vức, phẳng lỳ. Dinh được bao bọc bởi hai vòng tường thành xây bằng đá hộc.
Dinh thự được xây dựng chủ yếu bằng đá xanh, gỗ pơ-mu, ngói đất nung già, các chi tiết được chạm trổ tỉ mỉ, công phu, đẹp mắt với các hình chủ đạo là rồng, phượng, dơi,. tượng trưng cho quyền quý và hưng thịnh. Dinh thự mang vẻ đẹp bề thế, uy nghi với kiến trúc hình chữ “vương”, tọa lạc trên quả đồi hình mai rùa. Đây là một điển hình về sự giao thoa nghệ thuật kiến trúc của người Mông và người Hán ở khu vực biên giới Việt - Trung.
Chợ tình Khâu Vai: Họp mồi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch tại xã Khâu Vai, huyện Mèo Vạc. Bắt nguồn từ một câu chuyện tình, Khâu Vai trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng. Chợ Khâu Vai ban đầu họp không có người mua, không có người bán. Khoảng mười 23 năm trở lại đây, do nhu cầu cuộc sống nên ngày chợ họp ngoài việc hò hẹn, gặp gỡ, người ta mang cả hàng hóa đến bán ở chợ.
Do vậy, đến chợ Khâu Vai, người ta cũng có thể mua, bán, trao đổi những sản vật vùng cao. Tiểu khu Trọng Con: Cách Tp. Hà Giang khoảng 60km về phía bắc ở tại xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang (đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử năm 1996). Đây được xem là cái nôi của phong trào cách mạng ở Hà Giang.
Chùa Sùng Khánh'. Hà Giang 9 km về phía nam thuộc thôn Làng Nùng, xã Đạo Đức (huyện VỊ Xuyên) được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử nghệ thuật năm 1993. Chùa được xây dựng thời Triệu Phong (1356), do thời gian, chùa bị hư hại, đến năm 1989 được nhân dân xây dựng trên nền chùa cũ. Ở đây còn lưu giữ hai di vật: Bia đá thời Trần (1367) ghi lại công lao của người sáng lập ra chùa và một quả Chuông cao 0.67m, được đúc thời Hậu Lê (1705).
Nghệ thuật khắc trên đá, trên Chuông đồng và kỹ thuật đúc Chuông là một bằng chứng nói lên bàn tay tinh sảo của các nghệ nhân vùng biên giới phía Bắc này. Và từ đó biết thêm lịch sử phát triển thời Trần và Lê tới tận vùng biên ải Hà Giang. Chùa Bình Lâm: Thuộc địa phận thôn Tông Mường, xã Phú Linh, Tp. Chùa còn có tên gọi chữ Hán là “Bình Lâm Tự”.
Nhân dân ở đây còn lưu giữ một quả chuông thời Trần được đúc vào tháng 3 năm Àt Mùi (1295) chuông có chiều cao 103cm, đường kính miệng 65cm, quai được cấu tạo bởi hai hình rồng, trên chuông có khắc bài Minh bằng chữ Hán gồm 309 chữ năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 4 (1296). Trên quả chuông ta bắt gặp tiêu bản rồng nổi trên chất liệu đồng (thế kỷ 13). Cùng với quả chuông, tại chùa Bình Lâm còn phát hiện được một số di vật như Tháp đất nung, mái ngói có họa tiết hoa chanh. là những nét quen thuộc và tiêu biểu của văn hoá thời Trần.
Miếu ông miếu Bà vào ngày lễ hội: Nằm ở Khâu Vai, huyện Mèo Vạc, nơi đây không chỉ được biết đến có chợ tình truyền thống mà còn có ngôi miếu cổ rất linh thiêng. Ngôi Miếu dựng lên vừa để tưởng nhớ câu truyện xưa cảm 24 động của cô gái người Giấy và chàng trai người Nùng do sự ngăn cấm của dòng họ. Miếu tổ chức Lễ hội vào ngày 2/2 và ngày 2/8 âm lịch, theo người dân trong bản thì đây là ngày giỗ ông và giỗ bà. Lễ mừng nhà mới dân tộc Lô Lô: Lễ mừng nhà mới kéo dài khoảng 2 ngày 2 đêm ở ngôi nhà mới của người dân tộc Lô Lô.
Cả bản kéo tới ăn mừng cho ngôi nhà mới. Thầy cúng đi hát, sau đó cùng ăn uống vui chơi, hòa tấu kèn sáo và hát giao duyên nam nữ. Lễ hội mùa xuân: Đây là lê hội vui xuân của dân tộc H mông và dân tộc Dao, thường được tổ chức vào những ngày sau Tet Nguyên Đán và kéo dài từ 3 đến 7 ngày. Lễ hội mang tính chất tổng hợp mừng công, cầu mưa, cầu con trai.
Lễ hội có thi bắn nỏ, hát giao duyên, ném pa páo, uống rượu, mở tiệc đãi khách. Lễ hội vỗ mông của dân tộc Mông: Ngày mùng 5 Tết Nguyên Đán hằng năm, cái chàng trai,cô gái đổ về Mèo Vạc nhằm tìm cho mình vợ (chồng). Khi tham gia lễ hội, các chàng trai, cô gái tìm đối tượng mà họ cảm thấy phù hợp với mình rồi vồ mông đối tượng và chờ “đối phương” đáp lại. Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển du lịch Với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dịch vụ, có thể thấy du lịch đang ngày nay có những đóng góp quan trọng trong đời sống xã hội cũng như trong cơ cấu kinh tế quốc gia trên thế giới và được các nước coi trọng.