Chương I: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Cũng theo Điều 3, Chƣơng I, Luật Du lịch Việt Nam năm 2007, các khái niệm liên quan tới hoạt động du lịch đƣợc hiểu nhƣ sau: Hoạt động du lịch: Là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cƣ và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. Khách du lịch: Hay còn gọi là khách, là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để thu nhập ở nơi đến. Bao gồm hai loại: khách du dịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
Tài nguyên du lịch: Là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn hóa để có thể sử dụng đáp ứng nhu cầu du lịch. Tiềm năng du lịch tự nhiên: Bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể đƣợc sử dụng cho mục đích du lịch. Tiềm năng du lịch nhân văn: Bao gồm những của cải vật chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra từ xƣa đến nay có thể thu hút khách du lịch đến thƣởng thức nhƣ: Các di tích lịch sử, di tích văn hoá; lễ hội truyền thống; làng nghề truyền thống; ẩm thực; âm nhạc… Xúc tiến du lịch: Là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch. Phát triển du lịch bền vững: Là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trƣờng, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tƣơng lai.
Các loại hình du lịch ở Việt Nam hiện nay khá đa dạng và phong phú, dựa vào từng tiêu chí mà có các loại hình du lịch khác nhau. Căn cứ vào mục đích của chuyến đi, tác giả Trần Đức Thanh trong Nhập môn khoa học du lịch phân loại: Du lịch văn hóa: Là loại hình du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trƣờng nhân văn, chủ yếu tập trung khai thác tài nguyên nhân văn. Du lịch thiên nhiên: Là các hoạt động du lịch diễn ra nhằm thỏa mãn nhu cầu về với thiên nhiên của con ngƣời. Trong đó, có loại hình du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông thôn.
Du lịch tham quan: Nhằm giúp con ngƣời nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Đối tƣợng tham quan có thể là tài nguyên du lịch tự nhiên (cảnh quan kỳ thú, danh lam thắng cảnh.) hoặc là tài nguyên du lịch nhân văn (di tích, công trình lịch sử, văn hóa, cơ sở nghiên cứu khoa học, viện bảo tàng). Du lịch giải trí: Du khách muốn tìm đến những nơi yên tĩnh, có không khí trong lành để thƣ giãn, nghỉ ngơi, bứt ra khỏi những công việc thƣờng nhật căng thẳng để phục hồi sức khỏe, vui chơi giải trí. Du lịch nghỉ dưỡng: Mục đích của chuyến du lịch kết hợp với việc nghỉ dƣỡng 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhằm phục hồi sức khỏe.
Ngƣời ta thƣờng chọn những nơi có không khí trong lành, khí hậu dễ chịu, phong cảnh hữu tình nhƣ các bãi biển, các vùng ven hồ, vùng núi… Du lịch khám phá: Chuyến đi nhằm mục đích khám phá thế giới xung quanh. Du lịch mạo hiểm: Dựa trên nhu cầu tự rèn luyện và khám phá bản thân mình, nhất là giới trẻ nhƣ leo núi, lặn biển. Du lịch lễ hội: Các chuyến du lịch kết hợp với việc tham gia vào lễ hội, nhƣ giỗ tổ Hùng Vƣơng (Phú Thọ), Lễ hội Tây Thiên (Vĩnh Phúc). Du lịch tâm linh: Chuyến đi nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con ngƣời trong đời sống về tinh thần.
Du lịch MICE: Đây là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thƣởng của các công ty cho nhân viên, đối tác. Mặc dù, mỗi loại hình du lịch có đặc trƣng riêng, nhƣng trong thực tế thƣờng không thể hiện nguyên một dạng mà có thể kết hợp một vài loại hình du lịch với nhau trong cùng một chuyến đi. Phát triển du lịch Từ khái niệm về du lịch và phát triển, tác giả luận văn đồng tình với quan điểm của Tiến sĩ Dương Hoàng Hương, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII về khái niệm phát triển du lịch nhƣ sau: “Phát triển du lịch là sự tăng lên về thu nhập, quy mô của ngành du lịch cùng với sự thay đổi chất lƣợng và cơ cấu ngành du lịch theo hƣớng tiến bộ và hiệu quả. Phát triển du lịch đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách, đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng cao và mở rộng lợi ích cho địa phƣơng, nƣớc làm du lịch, cho doanh nghiệp hoạt động du lịch và ngƣời dân”.
Báo điện tử Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo chí này: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí Internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử. Trong đó, báo điện tử là khái niệm đƣợc sử dụng thông dụng ở nƣớc ta. Theo Điều 3, Luật Báo chí năm 1989 được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X quy định: “Báo điện tử là loại hình báo chí đƣợc thực hiện trên 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạng thông tin máy tính”. Theo Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung số 103/2016/QH13 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 5/4/2016 (gọi tắt là Luật Báo chí năm 2016, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2017) định nghĩa: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, đƣợc truyền dẫn trên môi trƣờng mạng”.
Trung ương, địa phương - Trung ương: Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của cả nƣớc. - Địa phương: Là tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng; là huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; là xã, phƣờng, thị trấn, thôn dân cƣ. Trong luận văn, tác giả sử dụng khái niệm địa phƣơng để nói về tỉnh Vĩnh Phúc. Tuyên truyền, quảng bá Báo điện tử Trung ƣơng và địa phƣơng thực hiện chức năng tuyên truyền, quảng bá du lịch Vĩnh Phúc tới đông đảo công chúng, do vậy, luận văn sẽ sử dụng hai khái niệm này.
- Tuyên truyền Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tƣ tƣởng đến đối tƣợng, biến kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tƣợng, thôi thúc đối tƣợng hành động theo định hƣớng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra. Theo Từ điển Tiếng Việt: Tuyên truyền là giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi ngƣời tán thành, ủng hộ, làm theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt đƣợc mục đích đó, là tuyên truyền bị thất bại.
- Quảng bá Ngày nay, khái niệm quảng bá đƣợc sử dụng rất rộng rãi trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng lẫn các phƣơng tiện truyền thông mới. Nhiều tài liệu nghiên cứu, các lĩnh vực nghiên cứu, ngành nghề có liên quan đến quảng bá xây dựng hình ảnh, thƣơng hiệu nhƣng khái niệm quảng bá vẫn chƣa có một định nghĩa cụ thể và chính thức. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong Từ điển Hán Việt, quảng bá là một từ ghép đƣợc ghép từ hai từ “quảng” với ý nghĩa là rộng lớn và “bá” có nghĩa là làm lan rộng. Chúng ta có thể hiểu với sự tách nghĩa thuật ngữ này, “quảng bá” là lan truyền rộng rãi một thông tin, một vấn đề, một sự việc.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Quảng bá là sự phổ biến rộng rãi về một đối tƣợng nào đó bầng các phƣơng tiện chuyển tải thông tin, nhằm thu hút sự chú ý, từ đó tạo ra nhu cầu tiêu dùng. Tiềm năng và vai trò của du lịch Vĩnh Phúc đối với phát triển KT-XH địa phƣơng 1. Khái quát điều kiện tự nhiên tỉnh Vĩnh Phúc Về vị trí địa lý: Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên 1.231 km2, phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp Hà Nội, phía Đông giáp 2 huyện Sóc Sơn và Đông Anh - Hà Nội. Tỉnh có 9 đơn vị hành chính: 2 thành phố, 7 huyện; 137 xã, phƣờng, thị trấn.
Đặc điểm địa hình: Phía bắc Vĩnh Phúc có dãy núi Tam Đảo kéo dài từ xã Đạo Trù (Tam Đảo) - điểm cực bắc của tỉnh đến xã Ngọc Thanh (Phúc Yên) - điểm cực đông của tỉnh với chiều dài trên 30 km, phía tây nam đƣợc bao bọc bởi sông Hồng và sông Lô, tạo nên dạng địa hình thấp dần từ đông bắc xuống tây nam và chia tỉnh thành ba vùng có địa hình đặc trƣng: Đồng bằng, gò đồi, núi thấp và trung bình. Khí hậu: Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có đặc điểm khí hậu của vùng trung du miền núi phía Bắc. Sông ngòi: Vĩnh Phúc có bốn con sông chính chảy qua, gồm: sông Hồng, sông Lô, sông Đáy và sông Cà Lồ. Lƣợng nƣớc hằng năm của các sông này rất lớn, có thể cung cấp nƣớc tƣới cho 38.200 ha đất canh tác nông nghiệp, đƣợc chia làm hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cà Lồ.
Tài nguyên rừng: Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 9.358,8 ha, chiếm 32,81%, tập trung chủ yếu ở huyện Tam Đảo với diện tích 6.978,3 ha, chiếm 74,49% diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh; đây cũng là nơi có Vƣờn Quốc gia Tam Đảo. Hiện tại, phần lớn rừng tự nhiên do Ban Quản lý rừng của tỉnh giám sát, kiểm tra và quản lý. Mật độ dân số: Vĩnh Phúc là tỉnh có dân số đứng thứ 37/63 tỉnh, thành phố, tăng 3 bậc so với năm 2009. Mật độ dân số xếp thứ 10/63 tỉnh/thành với 932 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời/km2, cao hơn 642 ngƣời/km2 so với mật độ dân số bình quân cả nƣớc.