Chương 1: Lý thuyết cơ bản về báo điện tử với vấn đề phát triển làng nghề truyền thống ở ĐBSH Chương 2: Thực trạng vấn đề phát triển làng nghề truyền thống ở ĐBSH trên báo điện tử Bắc Ninh, Hà Nội mới, Vĩnh Phúc Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin vấn đề phát triển làng nghề truyền thống ở ĐBSH trên các báo điện tử Bắc Ninh, Hà Nội mới, Vĩnh Phúc 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1:LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở ĐBSH 1. Một số khái niệm cơ bản về làng nghề, làng nghề truyền thống - Làng nghề Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương.[23,6] Làng nghề là một không gian lãnh thổ nông thôn, ở đó tồn tại một hoặc một số nghề thủ công đóng vai trò quan trọng đối với đời sống vật chất, tinh thần của người dân địa phương.
[23,10] Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng. [9, 13] Làng nghề cần được hiểu là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông [18, 16] Như vậy, từ những khái niệm trên có thể thấy làng được gọi là làng nghề khi hội tụ hai điều kiện sau: Có một số lượng tương đối các hộ cũng sản xuất nghề; Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập cho làng. - Làng nghề truyền thống Cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm nào về làng nghề truyền thống được đưa ra.
Song, quan niệm về làng nghề của Giáo sư trần Quốc Vượng tròn cuốn Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫmđược cho là đầy đủ nhất vàsát với đặc điểm các làng nghề truyền thống nước ta nhất, đã được đưa vàoKỷ yếu Hội thảo quốc tế “Bảo 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam” tháng 8/1996: “Là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương. song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài”.[13,38] Nhiều nghề và làng nghề truyền thống đã nổi bật lên trong lịch sử Việt Nam. Ở đó không chỉ tập trung một hay nhiều nghề thủ công, trở thành một trung tâm sản xuất lớn hoặc khá lớn, mà còn là nơi hội tụ các thợ và nghệ nhân tài khéo, tạo ra những sản phẩm có bản sắc riêng.
Làng nghề truyền thống còn có lễ hội làng hàng năm, những thế hệ nghệ nhân tiêu biểu, được nhân dân tự phong để ghi nhận công lao của họ. Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là những sản phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày mà một số còn là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nền văn hóa xã hội, mức phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn của dân tộc. Sự hình thành và phát triển của làng nghề truyền thống Việt Nam luôn gắn liền với sự phát triển của nền văn hóa và văn minh vùng châu thổ Bắc Bộ. Đặc điểm chung của các làng nghề phía Bắc thường nằm ở gần trung tâm hoặc gần các đô thị lớn, các trục giao thông đường bộ, đường sông.
Các làng nghề của vùng ĐBSH thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc bộ tập trung chủ yếu ở ven hệ thống sông Hồng, sông Nhuệ và sông Thái Bình. Các làng nghề truyền thống được chia thành 6 nhóm ngành chính gồm: thủ công mỹ nghệ; chế biến lương thực thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm; ươm tơ; vật liệu xây dựng, khai thác đá; tái chế phế liệu và các ngành nghề khác. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thực trạng và yêu cầu của vấn đề phát triển làng nghề truyền thống ở ĐBSHhiện nay 1.
Vai trò của làng nghề truyền thống đối với đời sống kinh tế - xã hội Có thể nói, so với các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam là nước có nhiều làng nghề truyền thống bậc nhất, đặc biệt là ở ĐBSH. Với đặc điểm lao động khéo tay, tỉ mỉ, cần cù nên sản phẩm rất đa dạng về chủng loại, như: Gốm sứ, mây tre đan, dệt thủ công, thêu đan, điêu khắc… Nhiều mặt hàng xuất khẩu ra nước ngoài được khách hàng đánh giá cao. Từ đó, làng nghề đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, góp phần giảm nghèo bền vững. Bên cạnh việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động ở khu vực này, phát triển ngành nghề sẽ tạo thêm việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn; đặc biệt với lao động phụ như: người già, trẻ em, khuyết tật… Do đó, làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, đa dạng hóa kinh tế nông thôn thúc đẩy quá trình đô thị hóa.
Bảo tồn và phát triển làng nghề có tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH-HĐH. Nhờ có thu nhập cao, các làng nghề đã đầu tư xây dựng được nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống. Các công trình chung của xã như: điện, đường, trường, học, trạm xá, trụ sở UBND đều khang trang hơn, trong đó có sự đóng góp chung sức ủng hộ chương trình xây dựng nông thôn mới của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong làng nghề. Cùng với kết cấu hạ tầng, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Ở các làng nghề phát triển mạnh không có hộ thuộc diện đói, nghèo, tỷ lệ hộ có nhà kiên cố cao tầng, có đồ dùng và các phương tiện sinh hoạt đắt tiền ngày càng gia tăng. Các làng nghề ở nông thôn phát triển còn góp phần xóa bỏ các tập tục lạc hậu, lối làm ăn nhỏ còn tồn đọng ở nông thôn, tạo ra nếp nghĩ, cách làm ăn mới theo tác phong của nền sản xuất công nghiệp, mở rộng giao lưu hàng hóa. Trong các làng nghề các tệ nạn xã hội cũng giảm đáng kể. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh đó, làng nghề truyền thống góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc.
Do hầu hết các làng nghề có khởi nguồn từ sáng tạo của dân cư địa phương nên trong sản phẩm làng nghề từ kiểu dáng, mẫu mã đều có những dấu ấn riêng về bản sắc văn hoá của từng địa phương. Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc. Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, trong đó thể hiện những sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống chính là sự kế thừa và phát huy đội ngũ nghệ nhân có bàn tay khéo léo cùng những bí quyết nghề quý giá và thông qua đó bảo tồn những nét độc đáo của bản sắc dân tộc Việt Nam.
Thực trạng vấn đề phát triển làng nghề truyền thống ở ĐBSH hiện nay Theo số liệu của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam thì tính đến cuối năm 2017, cả nước có 5.407 làng nghề đang hoạt động, trong đó số làng nghề được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748, thu hút hơn 10 triệu lao động và mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,7 tỷ USD/năm.Các làng nghề có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân địa phương.Trong đó, số lượng làng nghề miền Bắc chiếm gần 70% số lượng các làng nghề trong cả nước (2.200 làng nghề), tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng ĐBSH, miền Trung có khoảng 200 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 4000 làng nghề. Tuy nhiên, bước vào thời kỳ CNH-HĐH nông thôn và hội nhập quốc tế, trong vòng xoáy kinh tế thị trường, bên cạnh những cơ hội, những thuận lợi, các làng nghề truyền thống ở Việt Nam nói chung, các làng nghề truyền thống ở ĐBSH nói riêng cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết, điển hình nhất là: - Sống chung với ô nhiễm môi trường: Đây là vấn đề nan giải của hầu hết các làng nghề nói chung và làng nghề truyền thống ĐBSH nói riêng. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề hiện đã đến mức báo động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người dân. Hầu hết các làng nghề hiện nay đã và đang bị ô nhiễm ở cả ba dạng: Ô nhiễm nước, ô nhiễm rác thải và khí thải.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do cách thức tổ chức quản lý sản xuất của các làng nghề hiện nay chưa thật sự hiệu quả. Đa số làng nghề sản xuất với hình thức nhỏ lẻ, thiếu sự hỗ trợ về vốn, công nghệ, cũng như thông tin thị trường… - Bị động với thị trường: Có thể nói, khó khăn nhất của các làng nghề hiện nay là tìm thị trường tiêu thụ. Bởi lẽ, sản phẩm của làng nghề truyền thống có giá thành cao, mẫu mã sản phẩm chưa đa dạng, chưa theo kịp thị hiếu người tiêu dùng cả trong và ngoài nước.