CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN TẠI DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN 1. Các khái niệm liên quan đến vốn luân chuyển a. Vốn luân chuyển Vốn luân chuyển đôi khi còn được gọi là tổng vốn lưu động, đề cập một cách đơn giản đến những tài sản lưu động dùng trong hoạt động của doanh nghiệp [10, tr.
Vốn luân chuyển ròng Vốn luân chuyển ròng (net working capital, viết tắt là NWC): Được tính bằng tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn [10, tr. Vốn luân chuyển hoạt động ròng Vốn luân chuyển hoạt động ròng (net operating working capital, viết tắt là NOWC): Được tính bằng tài sản ngắn hạn hoạt động trừ đi nợ ngắn hạn hoạt động [10, tr. Nợ ngắn hạn hoạt động được tính bằng nợ ngắn hạn trừ đi khoản vay ngắn hạn. Các yếu tố cấu thành và đặc điểm của vốn luân chuyển a.
Các yếu tố cấu thành vốn luân chuyển Cấu trúc vốn luân chuyển gồm có: - Tiền mặt và chứng khoán khả nhượng - Giá trị khoản phải thu - Giá trị hàng tồn kho - Các khoản đầu tư ngắn hạn khác b. Đặc điểm Vốn luân chuyển gắn liền với chu kỳ sản xuất kinh doanh. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên vốn lưu động cũng vận 8 động liên tục. Sự vận động của vốn luân chuyển trải qua các giai đoạn, chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền mặt sang các hình thái hàng hóa khác nhau và cuối cùng quay trở lại hình thái ban đầu là tiền, đây gọi là vòng tuần hoàn luân chuyển của vốn luân chuyển.
Vốn luân chuyển hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì sản xuất. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản trị vốn luân chuyển có vai trò quan trọng. Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển Quản trị vốn luân chuyển tốt có thể làm giảm khoản đầu tư cần thiết vào hoạt động kinh doanh, từ đó là tăng dòng tiền tự do và tăng giá trị doanh nghiệp. Chúng ta sẽ xem xét thông qua mô hình ở Hình 1.
Mô hình về giá trị công ty (Nguồn: Sách: Intermediate Financial Management, F. Daves) 9 Các công ty thường hoạt động theo một chu kì, trong đó họ mua hàng tồn kho, bán hàng tín dụng và sau đó thu hồi các khoản phải thu. Chu kì này được gọi là chu kì chuyển hóa tiền mặt. Khi một công ty bắt đầu sản xuất, nó phải cần chi phí đầu tư mới ban đầu và trong quá trình hoạt động nó cần một khoản chi phí để đầu tư vào vốn lưu động hoạt động ròng.
Mục tiêu của công ty là rút ngắn chu kỳ chuyển hóa tiền mặt càng nhiều càng tốt nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất. Điều này sẽ làm tăng giá trị công ty, vì chu kỳ chuyển hóa tiền mặt càng ngắn, vốn lưu động hoạt động ròng cần thiết càng thấp và dòng ngân quỹ tự do (Free cash flow, viết tắt FCF) càng cao. Dưới đây sẽ phân tích điều này trên hai góc độ. Thứ nhất, trong điều kiện doanh số bán hàng không thay đổi.
Như đã biết, dòng ngân quỹ tự do được tính bằng lợi nhuận hoạt động ròng sau thuế (net operating profit after tax, viết tắt là NOPAT) trừ đi đầu tư ròng vào vốn luân chuyển hoạt động ròng. Vì vậy khi cắt giảm chu kỳ chuyển hóa tiền mặt sẽ làm nhu cầu vốn luân chuyển giảm, dòng ngân quỹ tự do sẽ tăng lên bằng đúng mức giảm của vốn luân chuyển. Thứ hai, giả sử doanh số bán hàng tăng lên. Khi một công ty đã cải thiện được quá trình luân chuyển vốn, họ thường duy trì hoạt động của công ty ở mức độ luân chuyển vốn này.
Nếu tỷ lệ NOWC trên doanh số vẫn duy trì ở mức mới, nhu cầu vốn luân chuyển cần thiết để hỗ trợ cho doanh số tăng thêm giảm làm cho ngân quỹ tự do dự kiến hằng năm trong tương lai tăng lên. Tóm lại, việc cải thiện quá trình quản trị vốn luân chuyển không chỉ tăng dòng ngân quỹ hiện tại mà còn cải thiện được dòng ngân quỹ tự do trong các năm tiếp theo. Sự kết hợp giữa dòng ngân quỹ chảy vào một lần và sự cải thiện trong dài hạn của dòng ngân quỹ tự do sẽ làm tăng giá trị cho công ty. Từ các phân tích trên ta thấy: Việc cải thiện trong quản trị vốn luân chuyển là một việc nên làm.
Mục tiêu của quản trị vốn luân chuyển tại doanh nghiệp Mục tiêu của quản trị vốn luân chuyển là phải kiểm soát chặt chẽ lượng tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho để giảm thời gian của chu kỳ chuyển hóa tiền mặt mà không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động quản trị vốn luân chuyển dựa trên giải quyết hai vấn đề lớn: - Mức vốn luân chuyển hợp lí mà công ty nên duy trì là bao nhiêu đối với từng loại tài sản cũng như toàn bộ tài sản lưu động? - Vốn luân chuyển được tài trợ như thế nào? 1. NỘI DUNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN 1. Quản trị tiền mặt a.
Khái niệm và lý do công ty nắm giữ tiền mặt - Tiền mặt được định nghĩa là tiền gửi cộng với tiền mặt tại quỹ. Tiền mặt được gọi là tài sản không sinh lợi. Nó cần có để trả lương cho lao động, nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, nộp thuế, trả nợ và thanh toán cổ tức [10, tr. - Các công ty nắm giữ tiền mặt vì hai lý do chính: Thực hiện các giao dịch: Việc cân bằng tiền mặt là rất cần thiết cho hoạt động kinh doanh.
Các khoản phải trả phải được thanh toán bằng tiền mặt, và các khoản phải thu sau khi thu hồi được gửi vào tài khoản tiền mặt. Dòng tiền vào và dòng tiền ra không thể dự đoán trước với khả năng dự báo khác nhau giữa các công ty và các ngành công nghiệp. Vì vậy, các công ty cần phải dự trữ một lượng tiền mặt cho các biến động không lường trước được của dòng tiền vào và dòng tiền ra. Bù trừ cho các ngân hàng để được cung cấp khoản cho vay và dịch vụ: Một ngân hàng tạo ra tiền bằng cách cho vay vốn, số tiền đặt cọc càng lớn thì lợi nhuận của ngân hàng càng lớn.
Nếu một ngân hàng đang cung cấp các dịch vụ cho một khách hàng, nó có thể yêu cầu khách hàng để lại một số dư tối thiểu 11 trên tài khoản tiền gửi để giúp bù đắp chi phí cung cấp các dịch vụ. Ngoài ra, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng vay, gửi tiền tại ngân hàng. Cả hai loại tiền gửi được gọi là số dư bù trừ. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt là khoảng thời gian từ khi thanh toán tiền vốn lưu động và thu tiền bán hàng.
Mô hình về chu kỳ chuyển hóa tiền mặt (Nguồn: Sách: Quản trị tài chính, TS. Nguyễn Thanh Liêm) Mục tiêu của công ty là rút ngắn chu kỳ chuyển hóa tiền mặt đến mức thấp nhất mà không tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Mục tiêu của quản trị tiền mặt Bản thân tiền mặt không có khả năng sinh lợi. Nếu có thể giảm lượng tiền mặt nắm giữ mà không làm ảnh hưởng đến doanh thu hoặc các khía cạnh khác của hoạt động công ty, điều này sẽ cho phép làm giảm hoặc nợ, hoặc vốn chủ sở hữu, hoặc cả hai, sẽ làm tăng lợi nhuận trên vốn và do đó thúc đẩy giá trị cổ 12 phiếu công ty.
Vì vậy, mục tiêu của quản trị tiền mặt là giảm thiểu lượng tiền mặt nắm giữ đủ để duy trì và giúp công ty hoạt động hiệu quả. Ngân sách tiền mặt Ngân sách tiền mặt cho thấy dòng tiền vào và dòng tiền ra dự kiến của công ty trong một thời gian cụ thể. Mục đích của ngân sách tiền mặt: Nói chung, các công ty sử dụng ngân sách dự báo hàng tháng cho năm tới, cộng thêm một ngân sách tiền mặt chi tiết hàng ngày và hàng tuần cho tháng tới. Ngân sách tiền mặt hàng tháng được sử dụng cho mục đích lập kế hoạch và ngân sách hàng ngày hoặc hàng tuần để kiểm soát lượng tiền mặt thực tế.
Trong ngân sách tiền mặt có 3 mục chính: - Mục thứ nhất là doanh thu bán hàng và khoản thanh toán khi mua hàng. - Mục thứ hai bao gồm tiền mặt từ khoản phải thu; liệt kê những khoản phải trả trong mỗi tháng; chênh lệch giữa khoản tiền mặt nhận được và khoản tiền mặt chi ra là tăng (giảm) tiền mặt ròng trong tháng. - Mục thứ ba xác định khoản vay cần thiết hoặc số dư tiền mặt tích lũy. Với số dư tiền mặt dư thừa không cần thiết, công ty sẽ có thể đầu tư vào các chứng khoán sinh lời hoặc sử dụng tiền vào các mục đích khác.
Các kỹ thuật quản trị tiền mặt Các kỹ thuật quản trị tiền mặt thường được sử dụng bởi các công ty hiện nay trên thế giới: - Đồng bộ hóa dòng tiền mặt: Thông qua việc nâng cao chất lượng dự báo và sắp xếp các hoạt động để các hóa đơn gắn đúng với nhu cầu tiền mặt, các công ty có thể duy trì các tài khoản giao dịch ở mức tối thiểu mà vẫn đảm bảo tiền mặt khi cần thiết. - Giảm thời gian kiểm tra hóa đơn: Khi một khách hàng viết và gửi một tờ ngân phiếu đến, công ty chưa chính thức nhận được ngân quỹ ngay, cho đến 13 khi quá trình thanh toán bù trừ sec được hoàn thành. Công ty phải mất một khoảng thời gian dài để thực hiện hoạt động kiểm tra sec và sử dụng tiền mặt. - Kỹ thuật vốn trôi nổi: Vốn trôi nổi là khoảng chênh lệch giữa số dư trong sổ sách của một công ty và số dư trong tài khoản của ngân hàng.
Sự trì hoãn làm cho vốn trôi nổi xuất hiện là do thời gian để sec chuyển qua đường bưu điện, được công ty nhận xử lý và được chuyển khoản qua hệ thống ngân hàng. Về cơ bản, quy mô của vốn trôi nổi ròng của một công ty là một phương trình tính đến khả năng đẩy nhanh tiến độ thu hồi sec và trì hoãn tiến trình chuyển sec cho người khác. Các công ty hiệu quả phải thực hiện rất nhiều hoạt động mới có thể đẩy nhanh thời gian xử lý của những tờ sec gửi đến và vì thế mới đưa ngân quỹ vào quá trình hoạt động một cách nhanh hơn, và họ cũng cố gằng trì hoãn hết mức thời gian thanh toán trong phạm vi có thể chấp nhận, thỉnh thoảng bằng sec chi tiêu từ các ngân hàng có vị trí ở xa.