CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN TRI THONG TIN VE PHÒNG, CHONG DICH COVID-19 TREN BAO DIEN TU 1. Một số khái niệm 1.1 Quản trị Đề tổn tại và phát triển, mọi tô chức dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào như: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. đều cần đến quản trị.
Trong bộ Tư bản, Mác đã khăng định sự cần thiết của quản trị qua hình ảnh: “Một nghệ sĩ chơi dan thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có người chỉ huy, người nhạc trưởng”. Thông qua hình ảnh đó, chúng ta có thể hiểu quản trị là hoạt động của người chỉ huy dàn nhạc, người này không chơi một nhạc cụ nào mà chỉ đứng hướng dẫn các nhạc công tạo nên bản giao hưởng. Ngày nay, khái niệm quản tri có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào cách tiếp cận và từng góc độ của mỗi một tác giả. Nhìn chung, quản trị là một khái niệm gắn với quyền lực ở mức độ nhất định.
Ở Việt Nam, khái niệm quản trị cũng đã có những nghiên cứu chuyên sâu của các học giả. Đó là “quản trị là tổng hợp các hoạt động được thực hiện nhằm đạt được mục đích (đảm bảo hoàn thành công việc) thông qua sự nỗ lực (sự thực hiện) của những người khác” [11, tr. Theo Nguyễn Minh Dao, “quản trị là sự tác động của chủ thê quản tri lên đối tượng quản trị nham đạt được mục tiêu đề ra trong một môi trường luôn luôn biến động”. Vũ Thế Phú lại cho răng: “Quản trị là một tiến trình làm việc với con người và thông qua con người dé hoàn thành mục tiêu của một tô chức trong một môi trường luôn luôn thay đổi.
Trọng tâm của tiến trình này là sử dụng có hiệu quả những nguồn tài nguyên có han”.7] Trên thế giới, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến van đề này.Gibson đã cho rằng “Quản trị là một quá trình do một hoặc nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp những hoạt động 16 của những người khác để đạt được những kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được. Với cách hiểu này, hoạt động quản trị chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành tô chức. Mary Parker Folle lại cho rằng “quản tri là nghệ thuật đạt được mục dich thông qua người khác”. Với định nghĩa này, quản trị là sự tác động thường xuyên, liên tục và có tổ chức của chủ thé quản trị đến đối tượng quản trị nhằm thực hiện các mục tiêu đã vạch ra một cách tối ưu trong điều kiện biến động của môi trường.
Theo tác gia, thông qua năng lực quan tri, nhà quản tri đạt được mục tiêu của tô chức băng cách sắp xếp, giao việc cho đúng người để thực hiện, chứ không phải tự mình hoàn thành công việc. 19] Koontz va O'Donnell cũng định nghĩa: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản tri, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ so đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thê hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định." Theo đó, quản trị là quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiến và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên, dé hoàn thành các mục tiêu đã định.20] Từ các khái niệm trên, tác giả có thé định nghĩa quản trị theo cách hiểu như sau: Quản trị là quá trình lên kế hoạch, tổ chức sắp xếp công việc, nhân sự dé phối hợp hoàn thành mục tiêu dé ra. Tóm lại, trong bat cứ cách tiếp cận nào, thì bản chất của hoạt động quản trị, déu được hiểu chung nhất là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản trị đến khách thể quản tri trong một tô chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muon va dat muc tiéu dé ra. Trên thực tế, rất nhiều người nhằm lẫn hai khái niệm quản trị và quan lý.
Quản trị và quản lý đêu nói vê công việc của người lãnh đạo khi vận hành một tô 17 chức nào đó. Torrington cuốn Tiếp xúc mặt đối mặt quản lý: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý nên đối tượng và khách thé quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiém năng, cơ hội của hệ thống dé đạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường”. 62] Theo giáo trình quản lý học, Trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của hệ thong xã hội nhằm đạt được mục dich của hệ thống VỚI hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động”. Như vậy, nói một cách ngắn gọn, quản lý là công việc đảm bảo mục đích đề ra từ việc quản tri được hoàn thiện.
Quản trị và quản lý nghe qua thì có vẻ giống nhau, như thực tế hai chức năng trên đều có sự khác biệt và đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của một tổ chức, doanh nghiệp. Những hiểu lầm đối với hai khái niệm này có thé khiến chúng ta sử dụng lẫn lộn trong nhiều văn cảnh và nhiều khi lại vô tình đánh tráo giá tri thuật ngữ, sử dụng chúng với cùng giá tri ý nghĩa như nhau. Cu thé, quản trị là toàn bộ quá trình đưa các quyết định về chính sách, quy tắc, mục tiêu, là các hoạt động của lãnh đạo cấp cao. Quản lý chỉ là tiếp nhận, thực hành điều phối để hướng tới mục tiêu của quản trị.
Thêm vào đó, quản lý có đối tượng hướng đến chính là công việc còn quản trị có đối tượng hướng đến là con người. Tựu chung lại, bản chất của quản trị chính là đưa ra quyết định, là nơi các mục tiêu hoạt động của tô chức được xây dựng. Còn quản lý chính là hành động làm cho các chính sách trở thành hiện thực, dưới sự cho phép, quyết định của quan trị. Quản trị đưa ra các quyết định quan trọng của toàn bộ tổ chức, trong khi quản lý đưa ra các quyết định trong giới hạn của công việc do người quản trị thiết lập.
Thông tin Thông tin là một khái niệm tưởng chừng đơn giản nhưng lại gây ra nhiều tranh cãi khi đưa ra định nghĩa về nó bởi cách tiếp cận vấn đề ở những góc độ và quan điểm khác nhau. Cụ thé, có quan điểm cho rằng thông tin sự thông báo, trao đối, giải thích về một đối tượng cu thé nào đó; nhưng nghiên cứu khác lại đồng nhất thông tin với kiến thức. Theo tác giả Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách “Bùng nỗ thông tin và sự ra đời một ý thức hệ mới” (Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội - 1996) giải thích khái niệm này trong hai nghĩa: Thứ nhất, nó chỉ một hành động rất cụ thé là tạo ra một hình dạng (frome); Thứ hai là, nó chỉ về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng. Hai hướng nghĩa này có thé được hiểu rằng thông tin để chỉ sự tạo lập cụ thể, đồng thời cũng là sự tạo lập kiến thức và truyền đạt.
127] Theo Đại từ điển Tiếng Việt của GS. Nguyễn Như Ý, “Thông tin có nghĩa như sau: 1. Động từ: Truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết. Tin tức được truyền đi cho biết; b.
Tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh. Với định nghĩa này, chúng ta có thê hiểu thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán giúp tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh.1648] Trong cuốn sách “Co sở lý luận báo chí truyền thông” của nhóm tác giả Trường Đại học Khoa học - Xã hội - Nhân văn: "Thông tin" là công cụ chủ yếu dé báo chí thực hiện mục dich của mình. Thông tin trở thành môi giới giữa báo chí và công chúng.
Nó là “dụng cụ làm việc”, với sự giúp đỡ của dụng cụ đó, những công việc đa dạng, quan trọng được hoàn thành. Đối với báo chí, những 19 công việc đó như một hệ thong xã hội đặc biệt. Đó là lý do giải thích tại sao bao chí gồm tat cả các tô chức thông tin thuộc loại hình khác nhau va ở những cấp độ khác nhau với ý nghĩa là tất cả các “phương tiện thông tin đại chúng". Như vậy, trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, thông tin hoạt động chủ yếu dựa trên nội dung của các thông điệp, nhất là khi tiếp xúc với công chúng.
Trong lĩnh vực báo chí, thông tin được dùng dé nói đến chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu tả câu chuyện, băng chứng, chỉ cần nó thé hiện một nhân tố của thực tại. 55] Từ các khái niệm khác nhau về thông tin nêu trên, có thé rút ra và thong nhất sử dụng khái niệm mang tính phô biến và phù hợp nhất đối với khuôn khổ của luận văn này đó là: Thông tin là tin tức, thông báo, đưa tin một sự vật hay một hiện tượng được chứa đựng trong các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng qua các phương thức thích hợp. Đây là những thông điệp nhằm chia sẻ tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm. giữa các đối tượng giao tiếp một cách tương đối bình đăng, nhiều chiều, nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức, thay đôi thái độ tiến tới điều chỉnh hành vi theo hướng tích cực hóa hoạt động thực tiễn.
Quản trị thông tin Trên thế giới, trong những năm 1970, khái niệm quản trị thông tin liên quan chủ yếu đến quản tri dir liệu, thé đục lỗ, thẻ từ và những phương tiện lưu trữ thông tin khác cùng với vòng đời của thông tin như: sản xuất, phân phối, sao lưu, bảo trì và hủy bỏ. Từ những năm 1980 — 1990 trở đi, cùng với sự phát triển của máy vi tính và khả năng xử lý dữ liệu, khái niệm quản trị thông tin chuyển sang hình thức mới, liên quan đến việc quản trị hệ thống máy tính, phần mềm và cơ sở dit liệu.