Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Chương 3: Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển của Công ty TNHH vận tải Bách Việt Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty TNHH vận tải Bách Việt 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN CỦA CÔNG TY TNHH VẬN TẢI BÁCH VIỆT 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về rủi ro, tổn thất a. Khái niệm về rủi ro Rủi ro là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người và gây những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình.
Mặc dù rủi ro là sự kiện khách quan, xảy ra ngoài ý muốn của con người, nhưng con người lại hoàn toàn có thể kiểm soát được rủi ro ở những mức độ khác nhau, từ đó có những biện pháp hạn chế tối đa những tổn thất rủi ro mang đến.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Tr 334). Đặc điểm của rủi ro: Rủi ro là sự kiện bất ngờ xảy ra ngoài mong đợi. Rủi ro có thể xảy ra với bất kỳ ai, bất kỳ tổ chức nào và ở bất cứ đâu, trong mọi hoạt động. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định, con người không biết chắc chắn rủi ro nào sẽ xảy ra cũng như khả năng xảy ra những rủi ro này.
Rủi ro tồn tại khách quan và mang tính phổ biến. Con người không đủ khả năng kiểm soát và/hoặc đo lường một cách chính xác một số yếu tố là nguyên nhân của các biến cố. do việc hạn chế trong thu thập và xử lý thông tin. Rủi ro có thể xảy ra rất khác nhau tong từng lĩnh vưc, ở mỗi nơi trong cuộc sống và kinh doanh.
Nó có thể xuất hiện từ những nguyên nhân bên ngoài một cách ngẫu nhiên, khách quan; những nó cũng có thể xuất hiện từ những nguyên nhân bên trong sự vật, hiện tượng. Rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất. Khi rủi ro xảy ra, luôn để lại những hậu quả (có thể là hậu quả nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng, hậu quả trực tiếp hoặc hậu quả gián tiếp). Hay nói khách khác, mọi rủi ro đều dẫn đến tổn thất, nhưng trong không ít các trường hợp, tổn thất là không đáng kể hoặc tổn thất gián tiếp, khó nhận ra nên có quan niệm cho rằng không phải mọi rủi ro đều dẫn đến tổn thất.
6 Ba vấn đề trên được coi là điều kiện của rủi ro. Hay nói cách khác, một sự kiện được coi là rủi ro khi cơ hội đủ ba điều kiện trên. Việc nghiên cứu rủi ro thực chất nhằm đạt được mục đích cuối cùng là hạn chế những thiệt hại, tổn thất cho các đối tượng có liên quan. Nghĩa là việc nghiên cứu rủi ro được xem xét trong những phạm vi nhất định, gắn với từng đối tượng nhất định, trong từng hoạt động, bởi rất có thể một sự kiện xảy ra được coi là rủi ro đối với người này, công ty này nhưng lại là cơ hội, sự may mắn đối với người khác, công ty khác.
Khái niệm về tổn thất Tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tải sản, về con người, tinh thần, sức khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra (PGS.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Tr 336). Tổn thất xuất phát từ nguyên nhân chủ đích của con người thường không được quan tâm nhiều và không nghiên cứu đầy đủ bởi nó thường được coi là đương nhiên. Tổn thất có thể là hữu hình (tổn thất tài sản, con người, sức khỏe, và cũng có thể là vô hình (tinh thần, đe dọa sự nghiệp,. Tổn thất vô hình hoàn toàn có thể đo lường và quy đổi ra thành tiền, và trong không ít các trường hợp tổn thất vô hình còn lớn hơn cả tổn thất hữu hình, chẳng hạn, vì rủi ro chậm trễ thời gian trong vận chuyển hàng hóa, đã bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, giảm uy tín trong kinh doanh,.
Trong thực tế hoạt động thương mại quốc tế, thường người ta chỉ đề cập đến những tổn thất hữu hình. Rủi ro và tổn thất là hai phạm trù khác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽ: rủi ro là nguyên nhân, tổn thất là hậu quả. Bất cứ rủi ro nào xảy ra cũng để lại tổn thất ở dạng này hay dạng khác, nhưng không phải tổn thất nào cũng được quy cho những rủi ro. Do đó, khi nghiên cứu rủi ro cần nghiên cứu tổn thất để đo lường được mức độ tác hại, gây nguy hiểm của rủi ro.
Khái niệm về quản trị rủi ro Theo bộ tiêu chuẩn TCVNISO/IEC31010:2013, khái niệm quản trị rủi ro được hiểu là “Việc áp dụng một cách hệ thống các thông lệ và thủ tục quản lý nhằm cung cấp thông tin cần thiết để xử lý rủi ro” 7 Theo PGS.TS Trần Hùng: “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả của rủi ro” (PGS.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, Trang 28). Các hoạt động chủ yếu của quản trị rủi ro là: Một là, nhận dạng, phân tích đo lường và phân loại những rủi ro đã và sẽ đến với tổ chức Hai là, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình kiểm soát rủi ro, với những điều kiện phù hợp với tổ chức đó Ba là, xây dựng và thực hiện tốt các chương trình tài trợ rủi ro. Mục tiêu của quản trị rủi ro không phải nhằm triệt tiêu hoàn toàn các rủi ro, tránh hết mọi tổn thất mà nhằm hạn chế các tổn thất do rủi ro gây ra ở mức thấp nhất có thể. Do đó, quản trị rủi ro không đơn thuần là hoạt động thụ động, tránh né mà là những hoạt động chủ động, tích cực trong việc dự kiến những thiệt hại, tổn thất có thể xảy ra và tìm cách làm giảm nhẹ hậu quả của chúng.
Như vậy quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế không chỉ đơn thuần là nhận dạng được rủi ro mà phải đo lường/đánh giá được mức độ nguy hiểm của rủi ro và đưa ra các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang đến trong chuỗi các hoạt động tác nghiệp. Để quản trị rủi ro hiệu quả đòi hỏi có sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích, và như vậy, tất yếu sẽ không thể có đủ chi phí để tài trợ tất cả các rủi ro. Do đó, rủi ro cần phải được phân tách thành các loại khác nhau dựa trên mức độ rủi ro có thể chấp nhận được hay không nhằm có phương án tài trợ hợp lý. Khái niệm về giao nhận hàng hóa XNK Theo quy tắc mẫu của FIATA về dịch vụ giao nhận: “Giao nhận vận tải là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá”, 8 Còn theo điều 167 của Luật Thương mại 1997: “Giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác”.
Người giao nhận hay người kinh doanh dịch vụ giao nhận (Freight Forwarder/ Forwarder) có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Quản trị rủi ro trong nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) ở quốc gia này đến nơi nhận hàng (người nhận hàng) ở quốc gia khác bằng đường biển. Thường sử dụng phương tiện vận tải là tàu biển. Quản trị rủi ro trong nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là quá trình nhận dạng, phân tích và đo lường rủi ro, kiểm soát, tài trợ rủi ro trong các nghiệp vụ của quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển của doanh nghiệp.
Quản trị rủi ro được tổ chức ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào nguồn lực tài chính và việc phân bổ nguồn lực của doanh nghiệp trong từng nghiệp vụ của quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển. Quản trị rủi ro giúp nhận dạng rủi ro từ đó có phương án giảm thiểu và triệt tiêu những nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt động của tổ chức, qua đó xây dựng môi trường kinh doanh hiệu quả. Quản trị rủi ro sẽ giúp hạn chế, xử lý tốt nhất các tổn thất khi gặp phải những rủi ro không mong muốn. Giúp người giao nhận chủ động xử lý tổn thất và giảm thiểu tổn thất ở mức thấp nhất.
Đối với doanh nghiệp: quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp tận dụng tốt cơ hội trong kinh doanh, làm chủ tình thế, biến khó khăn thành cơ hội nhằm sử dụng tối ưu nguồn lực của tổ chức. 9 Ngoài ra, quản trị rủi ro góp phần nâng cao vị thế, uy tín của tổ chức, cá nhân, giúp doanh nghiệp có lợi thế và điểm mạnh thu hút các đối tác khách hàng, thực hiện thành công nhiều hơn các hợp đồng trong kinh doanh. Quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển 2.Bước 1: Tìm kiếm khách hàng và nhận yêu cầu từ khách hàng Nhân viên kinh doanh sẽ tìm kiếm khách hàng qua việc đăng tải, tìm kiếm thông tin trên Internet, dữ liệu hải quan,. và chủ động liên hệ, hỗ trợ tư vấn cho những khách hàng có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa.
Nhân viên kinh doanh sẽ nhận được thông tin lô hàng của khách bao gồm: cảng đi/cảng đến, tên hàng, số lượng hàng/trọng lượng hàng, loại hình vận chuyển, điều kiện giao hàng, thời gian đóng hàng, các yêu cầu đặc biệt khác (nếu có).