Chương 1: Tổng quan nghiên cứu 13 Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Chương 3: Thực trạng hoạt động quản trị quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại công ty cổ phần Kioway Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển tại công ty cổ phần Kioway 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUY TRÌNH NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Khái quát hoạt động nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển 2. Khái niệm về giao nhận, người giao nhận 2. Khái niệm và vai trò của giao nhận Giao nhận là một hoạt động kinh tế rất rộng liên quan tới hầu hết các công việc trong quá trình đưa hàng hóa từ nơi gửi đến nơi nhận nhanh chóng và hiệu quả nhất.
Theo quy tắc mẫu về dịch vụ giao nhận vận tải của Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận vận tải quốc tế (FIATA) thì giao nhận vận tải được định nghĩa như sau: “Giao nhận vận tải là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”. Tại Việt Nam, dịch vụ giao nhận lần đầu được đề cập tại điều 163 Luật Thương mại 1997 với nội dung tương tự như khái niệm của FIATA: “Giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan đến giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác”. Theo sự phát triển, dịch vụ giao nhận có sự kết hợp với các hoạt động khác để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng nên thay vì đưa ra khái niệm về dịch vụ giao nhận, điều 253 Luật Thương mại 2005 đã đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics với nội dung mở rộng hơn so với khái niệm dịch vụ giao nhận của FIATA: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Trong bối cảnh toàn cầu hóa mở rộng, dịch vụ giao nhận ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động thương mại quốc tế, cụ thể: Thứ nhất, dịch vụ giao nhận hàng hóa có tác dụng tối thiểu hóa chi phí trong quá trình vận chuyển và phân phối hàng hóa.
Dịch vụ giao nhận càng được làm tốt sẽ càng 15 tiết kiệm cho chi phí vận tải, chi phí kho bãi cũng như các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông hàng hóa, từ đó sẽ giúp cho giá cả hàng hóa giảm bớt, mang lại lợi ích cho khách hàng cũng như tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thứ hai, dịch vụ giao nhận hàng hóa góp phần mở rộng thị trường trong thương mại quốc tế. Các nhà sản xuất muốn mở rộng thị trường cần phải có sự hỗ trợ của dịch vụ giao nhận hàng hóa. Dịch vụ này có tác dụng như cầu nối trong vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường đến thị trường mới.
Thứ ba, dịch vụ giao nhận hàng hóa góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ kinh doanh quốc tế. Thứ tư, dịch vụ giao nhận hàng hóa góp phần thúc đẩy các ngành nghề kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Khái niệm và vai trò của người giao nhận Theo Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận vận tải quốc tế (FIATA) thì “Người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân họ không là người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hóa,.
Từ đó, ta có thể hiểu rằng người giao nhận là thương nhân, tổ chức thực hiện nhiệm vụ giao nhận cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại các thương nhân, tổ chức khác thực hiện, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp về dịch vụ giao nhận hàng hóa và tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định pháp luật hiện hành. Ngày nay, do sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế nói chung và hoạt động giao nhận, vận chuyển hàng hóa nói riêng, người giao nhận có thể đảm nhận nhiều vai trò với những chức năng khác nhau như: Vai trò môi giới hải quan: Người giao nhận sẽ làm việc trực tiếp với hải quan nội địa, sẵn sàng làm các thủ tục thông quan cho lô hàng theo đơn và nhận phần lợi nhuận như tiền hòa hồng cho mình. Vai trò đại lý vận tải: Người giao nhận không nhận bất kỳ trách nhiệm nào với chức năng chuyên chở, họ chỉ giúp người gửi hàng liên hệ với người chuyên chở nhằm thuê phương tiện vận chuyển hàng hóa và thực hiện hợp đồng hoặc ngược lại, liên hệ 16 người gửi hàng hỗ trợ người vận chuyển tìm kiếm khách hàng. Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ giao nhận thì người giao nhận cũng có thể thực hiện chức năng chuyên chở hàng hóa.
Vai trò người chuyển tiếp hàng hóa: Người giao nhận sẽ thu xếp ký hợp đồng với các công ty bốc xếp dỡ hàng hóa, công ty vận chuyển để đưa hàng từ chỗ cảng quá cảnh đến chỗ đỗ phương tiện chuyển tiếp để tiếp tục lộ trình. Vai trò người lưu kho và bảo quản hàng hóa: Trong thời gian từ khi khách hàng giao hàng cho người vận chuyển đến khi hàng hóa được xếp lên phương tiện vận chuyển thì cần phải được lưu kho và bảo quản cẩn thận. Vai trò người gom hàng và thông báo biểu cước: Bên cạnh các lô hàng nguyên container (FCL), người giao nhận thường đảm nhận thêm dịch vụ gom hàng lẻ (LCL). Họ sẽ tập hợp các lô hàng nhỏ lẻ, tập trung tại một địa điểm để tạo thành một lô hàng lớn hơn nhằm tận dụng tối đa sức chở của container và giảm thiểu tối đa cước phí vận tải.
Vai trò người chuyên chở: Người giao nhận trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng đóng vai trò là người thầu chuyên chở, nếu ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở. Còn nếu người giao nhận trực tiếp chuyên chở thì là người giao nhận thực tế. Trong trường hợp này, người giao nhận phải chịu trách nhiệm về hàng hóa trong suốt hành trình và có thể phát hành vận đơn. Vai trò người cung cấp các dịch vụ gắn liền với vận tải: Trong quá trình thực hiện các hoạt động liên quan đến giao nhận vận chuyển hàng hóa thuộc chuyên môn và chức năng của mình thì những người giao nhận lại vô tình tìm thêm được các dịch vụ hỗ trợ đi kèm với hoạt động vận tải, cụ thể như chuyển phát nhanh, hỗ trợ khách hàng giám định sản phẩm, mua bảo hiểm cho hàng hóa,.
Đặc điểm về dịch vụ nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Dịch vụ nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển có những đặc điểm cơ bản của một dịch vụ song cũng có những nét đặc trưng riêng như: Thứ nhất, tính vô hình: Quá trình vận chuyển hàng hóa quốc tế làm hàng hóa dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác. Tính chất này nghĩa là các chủ hàng, người sử dụng dịch vụ không thể nhìn thấy, cân đo đong đếm được như với hàng hóa hữu hình. Thứ hai, tính không lưu trữ: Hoạt động vận chuyển phát sinh khi xuất hiện nhu 17 cầu của khách hàng, người giao nhận không có khả năng sản xuất hàng loại và tích trữ dịch vụ vận chuyển. Thứ ba, tính không sở hữu: Khi dịch vụ vận chuyển được thực hiện, các công việc như vận chuyển, bảo quản, bốc xếp hàng hóa, khách hàng chỉ nhận được kết quả là hàng hóa di chuyển đến cảng đích chứ không được chuyển giao quyền sở hữu đối với phương tiện vận chuyển hay công cụ vận tải.
Thứ tư, tính không thể chia cắt sản xuất đi đôi với tiêu thụ: Tính không thể chia cắt thể hiện đồng thời cả về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ vận chuyển. Khi khách hàng thuê một người vận chuyển để đưa hàng hóa từ nơi này đến nơi khác thì khi hàng hóa được vận chuyển là lúc người vận chuyển đang cung cấp dịch vụ vận chuyển và khách hàng đang tiêu dùng dịch vụ vận chuyển được cung cấp. Thứ năm, tính thay đổi: Tính thay đổi của dịch vụ vận chuyển thế hiện ở việc dịch vụ vận tải không giống nhau giữa các lần sử dụng dịch vụ dù là cùng một nhân viên vận chuyển, cùng một nhà cung cấp hay cùng một loại dịch vụ. Sản phẩm dịch vụ vận tải không bao giờ lặp lại do nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, trình độ của nhân viên, tâm lý,.
Thứ sáu, tính thích ứng: Do đặc điểm của sản phẩm vận tải là không có sản phẩm dở dang hay bán thành phẩm nên dịch vụ vận tải luôn thích ứng với các yêu cầu của người sử dụng. Cơ sở lý luận về quản trị quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển 2. Khái niệm quản trị quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Quản trị là quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên, để hoàn thành các mục tiêu đã định. Theo đó, quản trị quy trình giao nhận và vận chuyển hàng hóa quốc tế là việc lập kế hoạch, tổ chức, giám sát và điều hành quá trình giao nhận vận chuyển hàng hóa giữa hai điểm (một địa điểm bốc và một địa điểm dỡ hàng) tại ít nhất là 2 quốc gia khác nhau; có xem xét đến an toàn, hiệu quả và chi phí.