Chương I: Cơ sở lí luận về công tác quản trị chỉ phí trong doanh nghiệp. - Chương 2: Thực trạng công tác quản trị chỉ phí đối với hoạt động in tại Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết và Dịch vụ In Đà Nẵng. - Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị chỉ phí đối với hoạt động in tại Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết và Dịch vụ In Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát triển cũng như phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, khẳng định vị thế của mình trên thương trường đòi hòi phải có sự quản trị tốt chỉ phí và có các quyết định kinh doanh đúng đắn. Chính vì vậy luận văn đã nghiên cứu và hoàn thiện công tác nâng cao hiệu quả quản trị chỉ phí đối với hoạt động in tại Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết và Dịch vụ In Đà Nẵng. Hiện nay, có rất ít đề tài nghiên cứu về quản trị chí phí trong doanh nghiệp mà chỉ có các đề tài về kiểm soát chỉ phí trong cùng lĩnh vực hoạt động in; cụ thể như sau Luận văn “ Quản trị nguyên vật liệu tại Công ty TNHH MTV In Bình Định” của tác giả Cao Thái Định; Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của trường Đại học Đà Nẵng năm 2013. Luận văn đã trình bày một số lý luận cơ bản về quản trị nguyên vật liệu đồng thời làm rõ hơn những lý luận về quản trị nguyên vật liệu giúp doanh nghiệp giảm chi phí, đạt hiệu qủa kinh tế cao tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường.
Kết quả mà luận văn đạt được là có thể áp dụng thực tế trong công tác quản trị nguyên vật liệu tại Công ty TNHH MTV In Bình Định Luận văn “ Quản trị chỉ phí tại Công ty Cổ phần Đức Nhân” của tác giả Phạm Thanh Khiét; Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của trường Đại học Da Nẵng năm 2013. Luận văn đã trình bày một số lý luận cơ bản về quản trị chỉ phí và vai trò của quản trị chỉ phí. Trên cơ sở đó, vấn đề đặt ra là Công ty phải tổ chức quản trị chỉ phí, kiểm soát để tiết kiệm chỉ phí đến mức thấp nhất. Kết quả mà luận văn đạt được 4 là có thể áp dụng thực tế trong công tác quản trị chỉ phí tại Công ty Cổ phần Đức Nhân.
Luận văn “Hoàn thiện kế toán quản trị chỉ phí tại Công ty Cổ phần In sách giáo khoa Hòa Phát” của tác giả Phan Thị Minh Huyền; Luận văn của trường Đại học Đà Nẵng năm 2013. Luận văn đã trình bày một số lý luận cơ bản về kế toán quản trị và kiểm soát chỉ phí. Trên cơ sở đó, vấn đề đặt ra là Công ty phải tô chức quản trị chỉ phí, kiểm soát để tiết kiệm chỉ phí đến mức thấp nhất. Kết quả mà luận văn đạt được là có thể áp dụng thực tế trong công tác hoàn thiện kế toán quản trị chỉ phí tại Công ty Cổ phần In sách giáo khoa Hòa Phát Luận văn “ Nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát nội bộ về chi phí ở Công ty Điện lực 3 ” của tác giả Hoàng Thị Thanh Hải; Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của trường Đại học Đà Nẵng năm 2005.
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, trong quá trình tìm hiểu và thu thập số liệu từ thực tế, tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, chứng minh đề làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. Luận văn này đi sâu vào các vấn đề về công tác kiểm soát nội bộ về chỉ phí trong doanh nghiệp. Từ đó làm tiền đề cho việc đánh giá thực trạng và tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát nội bộ về chỉ phí ở Công ty Điện lực 3. Luận văn phần nào đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu đề ra.
Luận văn “ Vận dụng kế toán quản trị chi phi sản xuất tại Công ty Công nghiệp nhựa CHINHUEI trong điều kiện áp dụng mô hình Capacity của CAM-I ” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Vân; Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của trường Đại học Đà Nẵng năm 2012. Luận văn đã trình bày một số lý luận cơ bản về kế toán quản trị và phương pháp xác định chỉ phí dựa trên hoạt động (ABC). Trên cơ sở đó, Công ty vận dụng mô hình Capacity vào công tác kế toán quản trị chỉ phí và kiến nghị liên quan đến việc vận dụng mô hình quản trị chỉ phí sản xuất Capacity của Cam-I tai Cong ty CNN Chinhuei. Từ việc tìm hiểu trên cho thấy, chưa có công trình nghiên cứu nào về quản trị chỉ phí trong lĩnh vực in.
Do vậy, vấn đề mà luận văn nghiên cứu là nâng cao hiệu quả quản trị chỉ phí tại Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết và Dịch vụ In Đà Nẵng, việc nghiên cứu mang tính cấp thiết và không bị trùng lắp. CO SO LY LUAN VE QUAN TRI CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIEP 1.1, KHAI NIEM VA PHAN LOAI CHI PHi 1. Khái niệm về chỉ phí Chỉ phí có nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy vậy có nhiều cách tiếp cận phổ biến là : quan điểm truyền thống, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS_01) và trong quản trị chiến lược Theo quan điểm truyền thống : “Chi phí là toàn bộ các hao phí về lao động sóng, lao động vật hóa và các chỉ phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra có liên quan đến việc chế tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ trong một thời kỳ nhất định” [3, Trang 12 ]. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS_01): “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chỉ ra, các khoản.
khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” [1, Trang 15 ] Trong quán trị chiến lược Trong quản trị chiến lược, chỉ phí được tiếp cận gắn liền với các nội dung là : tác nhân tạo chí phí, nhóm chỉ phí, đối tượng nhận chi phí, ấn định chi phí và phân bổ chi phí + Tác nhân tao chi phi (cost driver) Tác nhân tạo chỉ phí là một yếu tố bắt kỳ có tác động làm thay đổi mức tổng chỉ phí. Để sản xuất sản phẩm hay dịch vụ chúng ta cần nguyên vật liệu, lao động, điện, nước, máy móc thiết bị. Khi được sử dung ching tao ra chi phi: chi phi nguyên vật liệu, chỉ phí lao động, các chỉ phí khác. Với các mức sử dụng khác nhau, chúng tạo ra những mức tổng chỉ phí khác nhau.
Đó chính là các tác nhân tạo chỉ phí. Trong các doanh nghiệp, tác nhân tạo chi phí được phân biệt: tác nhân tạo chỉ phí theo hoạt động và tác nhân tao chi phí theo sản lượng. 6 e Tác nhân tạo chỉ phí theo hoạt động: việc phân tích chi tiết các hoạt động sẽ xác định tác nhân tạo chí phí ¢ Tac nhan tạo chỉ phí theo sản lượng: tổng chỉ phí của sản phẩm hình thành từ chỉ phí biến đổi và chỉ phí cố định, trong đó (1) Chỉ phí biến đổi: là những chỉ phí sẽ thay đổi khi có sự thay đổi trong số lượng tác nhân tạo chỉ phí, như: chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp. (2) Chỉ phí cố định: là những chi phi không thay đổi theo sự thay đổi của số lượng tác nhân tạo chỉ phí.
Tóm lại: Đối với các doanh nghiệp, để đạt mức chỉ phí thấp, thì việc quản trị các tác nhân tạo chỉ phí là rất quan trọng. + Nhom chi phi (cost pool) Đó là sự tập hợp chi phi vào trong các nhóm. Có nhiều cách dé tap hop chi phi thành nhóm và như vậy cũng có nhiều cách xác định nhóm chỉ phí: e Theo dạng chi phí (nhóm chi phí lao động, nhóm chi phí nguyên vật liệu,. e Theo nguồn chi phi (chi phí của bộ phận sản xuất, bộ phận kế hoạch, bộ phận quản lý kho, .) + Đối tượng nhận chi phi (cost object) Đối tượng nhận chi phí là một sản phẩm, một dịch vụ nào đó phải nhận tất cả các chỉ phí liên quan đến việc quản trị và sản xuất ra chúng Trong quản trị chỉ phí, khái niệm này còn bao gồm nhóm sản phẩm, nhóm dịch vụ, nhóm các bộ phận sản xuất, khách hàng, nhà cung ứng dịch vụ + Ấn định chỉ phí và phân bổ chỉ phí - Ấn định chỉ phí là đưa các chỉ phí trực tiếp vào trong nhóm chỉ phí hay đối tượng nhận chỉ phí.
Thí dụ: chi phi nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp là những chỉ phí trực tiếp cho sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ. Các chỉ phí này dé dàng tính được khi phân tích chỉ phí của một sản phẩm. - Phân bé chi phi là đưa các chỉ phí gián tiếp đến nhóm chỉ phi hay đối tượng 7 nhận chỉ phí. Các chỉ phí gián tiếp này khó tính được chính xác cho một đối tượng nhận chỉ phí.
Vì thế, nó có thể được phân bổ đến đối tượng nhận chi phí dựa trên một cơ sở nào đó mà doanh nghiệp cho là thích hợp nhất Trên thực tế, đẻ đơn giản và dễ tính toán, các nhà quản trị chỉ phí chấp nhận sử dụng phương pháp phân bổ chỉ phí gián tiếp trung bình trên từng sản phẩm (lấy tổng chỉ phí gián tiếp đó chia cho số lượng sản phẩm được sản xuất. Mỗi sản phẩm nhận phần chỉ phí giống như nhau). Tuy nhiên, phương pháp này không cho thấy được mức độ sử dụng các yếu tố chỉ phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ. Phân loại chỉ phí Chỉ phí luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà quản lý, vì chỉ phí ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát được chỉ phí. Trong một đơn vị, chỉ phí có thể được phân theo nhiều tiêu thức khác nhau. Mỗi tiêu thức phân loại chỉ phí có ý nghĩa riêng đối với từng hoạt động cụ thể của đơn vị. Căn cứ theo chức năng hoạt động Theo chức năng hoạt động chỉ phí được phân thành hai loại : chỉ phí sản xuất và chỉ phí ngoài sản xuất.