Phần mở đầu. Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị chi phí. Phần 3: Địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Phần 4: Kết quả của nghiên cứu.
Phần 5: Kết luận. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ 2.
Đặc điểm ngành viễn thông 2. Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ Đặc điểm cơ bản của sản phẩm viễn thông là không phải sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hóa cụ thể, mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận, sản phẩm viễn thông thể hiện dưới dạng dịch vụ. Để tạo ra sản phẩm viễn thông cần có sự tham gia của các yếu tố sản xuất như lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. - Lao động viễn thông bao gồm: lao động công nghệ, lao động quản lý và lao động hỗ trợ.
- Tư liệu lao động viễn thông: là những phương tiện, thiết bị thông tin dùng để truyền đưa tin tức như thiết bị chuyển mạch, thiết bị truyền dẫn, phương tiện vận chuyển, nhà cửa… - Đối tượng lao động viễn thông: là những tin tức như cuộc đàm thoại, thư điện tử, bức fax… Đặc điểm phi vật chất của sản phẩm còn được thể hiện ở sự vắng mặt của NVL cơ bản trong quá trình tạo ra sản phẩm. Điều này ảnh hưởng đến cơ cấu chi phí SXKD dịch vụ viễn thông: chi phí NVL chiếm tỉ trọng không đáng kể, phần chi phí chủ yếu tập trung ở tiền lương trả cho lao động. Để nâng cao hiệu quả SXKD cần áp dụng các biện pháp sao cho phù hợp. Quá trình SXKD viễn thông mang tính dây chuyền Đặc điểm của ngành viễn thông là quá trình sản xuất của nó được phân bố trên khắp lãnh thổ đất nước, thậm chí ở tại nhiều quốc gia khác nhau chứ không kết thúc trong một doanh nghiệp, một công ty.
Để cung cấp dịch vụ viễn thông cho khách hàng cần có sự phối hợp của nhiều đơn vị liên quan trong ngành viễn thông tham gia, mỗi đơn vị thực hiện một công việc nhất định trong quá trình truyền đưa tin tức hoặc là giai đoạn đi, hoặc giai đoạn đến, giai đoạn quá giang. Từng cơ quan riêng biệt nói chung không thể tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, cũng như hiệu quả có ích cho người sử dụng, nhưng nó thực hiện những công việc cần 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiết để xử lý lưu lượng, phục vụ hệ thống chuyển mạch và đường truyền dẫn, kết quả cuối cùng là đảm bảo hoàn thành dịch vụ - sản phẩm hoàn chình. Do vậy để đảm bảo chất lượng tin tức truyền đưa cần phải có quy định thống nhất về thể lệ thủ tục khai thác các dịch vụ viễn thông, qui trình khai thác, bảo dưỡng thiết bị thông tin, chính sách đầu tư phát triển mạng một cách phù hợp, thống nhất về đào tạo cán bộ, cần có sự phối hợp chặt chẽ về kỹ thuật, nghiệp vụ, lao động trên phạm vi rộng lớn, trên qui mô cả nước và mở rộng ra phạm vi thế giới. Đặc điểm này đòi hỏi sự thống nhất và tính kỷ luật cao trong việc đảm bảo kỹ thuật mạng lưới, sự thống nhất về nghiệp vụ trong tổ chức khai thác; đòi hỏi phải có sự chỉ huy thống nhất từ một trung tâm và sự gắn bó giữa hoạt động viễn thông trong nước và quốc tế.
Có nhiều bộ phận viễn thông tham gia vào quá trình truyền đưa một tin tức hoàn chỉnh, trong khi đó việc thanh toán cước chỉ diễn ra ở một nơi thường là nơi chấp nhận tin tức đi. Chẳng hạn như bộ phận thu cước khi chấp nhận cước điện thoại được thu ở thuê bao chủ gọi. Quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm Dịch vụ viễn thông được sản xuất và tiêu dùng cùng thời điểm, nghĩa là quá trình sử dụng không thể tách rời khỏi quá trình sản xuất, hay nói cách khác hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình sản xuất. Đặc điểm này thể hiện rõ nhất trong điện thoại, nơi mà quá trình truyền đưa tín hiệu điện thoại - quá trình sản xuất, được thực hiện với sự tham gia của người nói - quá trình tiêu thụ.
Với đặc điểm này ta nhận thấy rằng: - Dịch vụ viễn thông không có tồn kho. - Chất lượng dịch vụ viễn thông cần phải được thường xuyên cải thiện và nâng cao bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng. Đối với bất kỳ ngành sản xuất nào chất lượng sản phẩm cũng là vấn đề quan tâm hàng đầu, đặc biệt là đối với ngành Viễn thông. Bởi lẽ đối với các ngành khác sản phẩm sau khi sản xuất ra phải được kiểm tra chất lượng trước khi đưa ra thị trường, người tiêu dùng có thể từ chối không mua sản phẩm có chất lượng kém hoặc chấp nhận mua với giá rẻ hơn.
Còn trong lĩnh vực viễn thông, dù muốn hay không người tiêu dùng cũng phải sử dụng những sản phẩm mà ngành đã tạo ra. Trong viễn thông quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm. Người sử dụng sản phẩm dịch vụ viễn thông tiếp xúc trực tiếp với nhiều 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khâu sản xuất của doanh nghiệp viễn thông. Chất lượng hoạt động viễn thông ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng và ngược lại trình độ sử dụng các dịch vụ viễn thông của khách hàng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng viễn thông.
Do đặc điểm không thể tách rời giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ nên đòi hỏi người tiêu dùng khi sử dụng các dịch vụ viễn thông thường phải có mặt tại các vị trí, địa điểm của Bưu điện hay phải có các thiết bị bưu điện như máy thuê bao. Vì vậy, để thu hút và đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu của khách hàng, ngành Viễn thông cần sớm phát triển mạng lưới thông tin rộng khắp để đưa dịch vụ viễn thông đến mọi đối tượng sử dụng. Vì quá trình tiêu dùng không tách rời quá trình sản xuất nên ngành viễn thông thường thu cước phí trước khi phục vụ khách hàng sử dụng. Đối với các cơ quan, xí nghiệp, cá nhân có ký hợp đồng với doanh nghiệp viễn thông, có thể sử dụng dịch vụ viễn thông trước và thanh toán sau vào một thời điểm quy định trong tháng.
Tải trọng không đồng đều theo thời gian và không gian Tải trọng là lượng tin tức được truyền đến yêu cầu một cơ sở sản xuất nào đó của Viễn thông phục vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Ngành viễn thông là ngành truyền đưa tin tức, để quá trình truyền đưa tin tức có thể diễn ra cần phải có tin tức, và mọi tin tức đều do khách hàng mang đến. Như vậy nhu cầu về truyền đưa tin tức quyết định sự tồn tại và phát triển của ngành Viễn thông. Nhu cầu về truyền đưa tin tức xuất hiện không đồng đều theo thời gian và phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội, lượng nhu cầu khá lớn vào giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ báo cáo, các ngày lễ tết,.
Trong điều kiện yêu cầu phục vụ không đồng đều, nhưng phải thỏa mãn tốt mọi nhu cầu của người tiêu dùng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải dự trữ đáng kể năng lực sản xuất như phương tiện, thiết bị thông tin, nguồn lao động, tài chính,.Do vậy, chi phí lao động trong ngành Viễn thông cao hơn so với các chi phí khác. Chính sự không đồng đều của tải trọng viễn thông đã làm cho hệ số sử dụng trang thiết bị và hệ số sử dụng lao động bình quân của ngành thường thấp hơn các ngành khác. Vì vậy, cần hiểu rõ và sử dụng các nguồn dự trữ một cách khoa học để tránh lãng phí, tăng hiệu quả sản xuất và thỏa mãn nhu cầu truyền đưa thông tin của khách hàng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Chi phí và quản trị chi phí 2. Khái niệm chi phí Chi phí là một khái niệm cơ bản nhất của bộ môn kế toán, của việc kinh doanh và trong kinh tế học, là các hao phí về nguồn lực để doanh nghiệp đạt được một hoặc những mục tiêu cụ thể. Nói một cách khác, hay theo phân loại của KTTC thì đó là số tiền phải trả để thực hiện các hoạt động kinh tế như sản xuất, giao dịch, v. nhằm mua được các loại hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh.
Khái niệm quản trị chi phí Quản trị có thể được hiểu tổng quát là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản trị lên khách thể quản lý nhằm đạt đến mục tiêu chung. Quản trị SXKD của doanh nghiệp nói riêng là một quá trình được đặt trong một môi trường nhất định. Quá trình đó gồm nhiều bước như xác định mục tiêu lập dự toán, lập kế hoạch, triển khai thực hiện, ghi chép kết quả thực hiện để kiểm tra đánh giá và ra quyết định. Quản trị chi phí là công cụ chủ yếu cung cấp, phân tích các thông tin cần thiết cho công việc quản trị của một doanh nghiệp.
Các thông tin này bao gồm các thông tin tài chính (chi phí và doanh thu) lẫn các thông tin phi tài chính (năng suất, chất lượng và các yếu tố khác của doanh nghiệp). Nhà quản trị chi phí không đơn giản là người ghi chép các thông tin về chi phí mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các quyết định quản trị để có thể cung cấp cho khách hàng những sản phẩm/dịch vụ có chất lượng tốt nhất với chi phí thấp nhất. Do vậy quản trị chi phí trở thành không thể thiếu được và tất yếu của quản trị doanh nghiệp. Phân loại chi phí trong doanh nghiệp Chi phí có rất nhiều loại vì vậy cần phải phân loại nhằm phục vụ cho quản lý và hạch toán.
Phân loại chi phí là việc sắp xếp các loại chi phí khác nhau vào từng nhóm theo đặc trưng nhất định. Tuy nhiên lựa chọn tiêu thức phân loại nào là phải dựa vào yêu cầu của công tác quản lý hạch toán. Phân loại chi phí theo tính chất kinh tế Đây là một cách phân loại của chi phí để doanh nghiệp xây dựng các định 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mức chi phí cần thiết, lập dự toán chi phí, lập báo cáo chi phí theo yếu tố trong kỳ.