CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 1. Khái niệm về kế toán quản trị chi phí Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, trước yêu cầu thông tin nhiều hơn, phong phú hơn của nhà quản trị, ngoài những thông tin về chi phí để có thể phục vụ công tác quản trị doanh nghiệp được tốt hơn, kế toán chi phí được bổ sung và phát triển thành kế toán quản trị. KTQT được phát triển mạnh tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20, và hiện nay được vận dụng ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường với tên gọi là KTQT.
Trong nền kinh tế thị trường, kế toán được phân thành 2 bộ phận đó là kế toán tài chính và kế toán quản trị, thông tin kế toán cũng được phân thành hai loại, đó là: - Thông tin phục vụ chủ yếu cho nội bộ, cho các nhà quản lý của doanh nghiệp được cung cấp bởi KTQT. - Thông tin phục vụ cho cả nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp được cung cấp bởi kế toán tài chính. Khái niệm về kế toán quản trị được Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “KTQT là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải thích và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”. Theo Điều 4, Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Luan van 10 Như vậy, KTQT là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp và có quan hệ chặt chẽ với KTTC, KTQT được hình thành và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, có nhiệm vụ cung cấp thông tin kế toán cho các nhà quản trị doanh nghiệp. KTQT về cơ bản dựa trên những nội dung cơ bản của kế toán, ngoài ra còn đi sâu, nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận để phục vụ tốt cho hoạt động điều hành SXKD của nhà quản trị. Vai trò của KTQT ngày càng được khẳng định và nó được xem như là một trong những công cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý nội bộ doanh nghiệp. Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí a.
Bản chất của kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị cung cấp thông tin thường xuyên và liên tục. Đối với nhà quản trị thông tin cần thiết về quá khứ và hiện tại là dự toán cho tương lai. Do đó, yêu cầu KTQT là phải xây dựng dự toán, thu nhận và xử lý các thông tin về chi phí, giá thành của từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả quá trình sản xuất. Tiến hành phân tích kịp thời các thông tin làm căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp, quyết định đúng đắn để đối phó kịp thời với những diễn biến của thị trường, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp.
Như vậy, KTQT chi phí không nhận thức theo quan điểm của KTTC mà theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định. Từ đó có thể rút ra bản chất của KTQT chi phí như sau: - KTQT chi phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép, hệ thống hóa trong sổ kế toán mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập các dự toán, quyết định các phương án kinh doanh. Luan van 11 - KTQT chi phí cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế, tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của DN. Những thông tin đó có ý nghĩa với những bộ phận, những người điều hành, nhà quản lý DN.
- KTQT chi phí là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một bộ phận không thể thiếu được để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý. Vai trò của kế toán quản trị chi phí - KTQT chi phí cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp trong việc thực hiện chức năng quản lý. - KTQT chi phí cung cấp các thông tin để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất thông qua các báo cáo đánh giá, đặc biệt là giúp cho nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD. - KTQT chi phí cung cấp các thông tin thích hợp cho nhà quản lý nhằm xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập báo cáo định kỳ và báo cáo đặc biệt.
- KTQT chi phí cung cấp các thông tin để phân bổ các nguồn lực doanh nghiệp cũng như quyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, hay quyết định ngừng sản xuất hợp lý. Kế toán quản trị chi phí với chức năng quản lý Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định. Hoạt động quản lý là một quá trình khép kín từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, đến kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Luan van 12 LẬP KẾ HOẠCH RA QUYẾT ĐỊNH KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TỔ CHỨC THỰC HIỆN Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp + Chức năng lập kế hoạch: Trong việc lập kế hoạch nhà quản trị vạch ra những việc phải làm để đưa hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp hướng về các mục tiêu đã xác định như: mục tiêu về lợi nhuận, về sự tăng trưởng, nâng cao uy tín của doanh nghiệp… Để hoạch định và xây dựng các kế hoạch, nhà quản trị phải dự đoán nhằm tiên liệu trước mục tiêu, phương pháp, thủ tục trên cơ sở khoa học.
Trong công việc này nhà quản trị phải liên kết các mục tiêu cụ thể lại với nhau và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực sẵn có. Chức năng này chỉ có thể được thực hiện tốt có hiệu quả, và có tính khả thi cao nếu nó được xây dựng trên cơ sở các thông tin phù hợp, hợp lý do bộ phận kế toán quản trị cung cấp. Như vậy kế toán quản trị phải cung cấp thông tin cần thiết để các nhà quản lý ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn, đáp ứng mục tiêu của tổ chức. Một kế hoạch phản ánh một quyết định: làm thế nào để đạt một mục tiêu cụ thể nào đó.
+ Chức năng tổ chức thực hiện: Để việc thực hiện kế hoạch đạt được hiệu quả cao nhất, nhà quản trị sẽ quyết định các phương pháp tốt nhất để tổ Luan van 13 chức con người với các nguồn tài - vật lực. KTQT phải cung cấp thông tin hàng ngày về tình hình hoạt động của tổ chức, về tài sản, chi phí, thu nhập…cả về mặt hiện vật và giá trị để phục vụ đắc lực cho nhà quản trị điều hành tốt quá trình hoạt động của tổ chức. + Chức năng kiểm tra đánh giá: Trong quản lý, việc lập ra kế hoạch chưa đủ mà quan trọng hơn là cần những thông tin có liên quan đến việc thực hiện kế hoạch. Kế toán quản trị giúp cho chức năng kiểm tra đánh giá bằng cách thiết kế nên các báo cáo có dạng so sánh.
Các nhà quản trị sử dụng báo cáo đó để kiểm tra, đánh giá trong các lĩnh vực trách nhiệm mà họ cần quan tâm, để xem xét và điều chỉnh, tổ chức thực hiện các mục tiêu đặt ra. Do đó, kế toán quản trị phải làm sao cho các nhà quản lý nhận được những thông tin mà họ cần hoặc muốn nhận. + Chức năng ra quyết định: Để ra được một quyết định thì cần phải có thông tin, những thông tin thật cụ thể, thật chi tiết, thật đầy đủ, thật kịp thời, không chỉ trong quá khứ mà còn cả ở hiện tại và trong tương lai. Những thông tin này phần lớn được cung cấp từ KTQT.
NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1. Nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất a. Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động Chi phí sản xuất Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên liệu thành thành phẩm bằng sức lao động của công nhân kết hợp việc sử dụng máy móc thiết bị. Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung: Luan van 14 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm các loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm.
Trong đó nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể xác định cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm. - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm. Chi phí nhân công trực tiếp cũng giống như chi phí NVL trực tiếp, có thể xác định rõ ràng, cụ thể và tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm. Trong thực tế quá trình sản xuất, chi phí sản xuất chung thường bao gồm: tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật liệu phục vụ cho phân xưởng và đội sản xuất, chi phí công cụ, dụng cụ cho phân xưởng và đội sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quá trình sản xuất, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác gồm các khoản như tiếp khách phân xưởng, thiệt hại trong quá trình sản xuất… [9, tr.