Tổng quan nghiên cứu

Quảng Ninh là một trong những trung tâm kinh tế biển trọng điểm phía Bắc với tổng diện tích có khả năng nuôi trồng thủy sản lên tới 27.890 ha và đường bờ biển dài trên 250 km. Trong giai đoạn 2017 – 2021, khu vực nông, lâm, thủy sản luôn đóng vai trò trụ cột trong cơ cấu kinh tế địa phương, chiếm tỷ trọng từ 38,49% đến xấp xỉ 50% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Thủy sản không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng mà còn là mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn, tạo sinh kế bền vững cho hơn 38.243 lao động. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu thủy sản của tỉnh đang đối mặt với nhiều thách thức lớn: sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc; hệ thống rào cản kỹ thuật thương mại (TBT) và an toàn thực phẩm (SPS) ngày càng khắt khe; cùng với đó là công tác quản lý nhà nước tại địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế về quy hoạch vùng nuôi, chính sách hỗ trợ và năng lực chế biến sâu.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Hữu Đôn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Ngọc Quyên tại Trường Đại học Ngoại thương (2022), được thực hiện nhằm giải quyết căn cơ vấn đề trên. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với xuất khẩu thủy sản; đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2017 – 2021; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi cho giai đoạn 2023 – 2030.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào cơ chế, chính sách và mô hình quản lý của các cơ quan công quyền đối với hệ thống doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và chuỗi giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủy sản chủ lực (tôm, cá, mực, nhuyễn thể) tại các địa bàn trọng điểm như Vân Đồn, Móng Cái, Đầm Hà, Hải Hà và Quảng Yên. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý, giúp nâng cao năng lực khai thác quỹ mặt nước nuôi trồng từ mức 25% hiện tại, thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu qua các cửa khẩu huyết mạch vượt mốc 40.431 triệu USD và tối ưu hóa hiệu quả chuỗi cung ứng thủy sản địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống phân tích dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các lý thuyết quản lý kinh tế công và thương mại quốc tế:

Thứ nhất, lý thuyết về Quản lý nhà nước đối với kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Đỗ Hoàng Toàn & Mai Văn Bưu, 2020). Theo đó, quản lý nhà nước đối với xuất khẩu thủy sản là quá trình tác động có tổ chức, liên tục và có chủ đích của các cơ quan quản lý nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, quy hoạch, chính sách hỗ trợ tài chính, đất đai và công cụ thanh tra, kiểm soát nhằm tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh và tối ưu hóa lợi ích kinh tế - xã hội.

Thứ hai, mô hình Kim cương của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia, được vận dụng nhằm giải thích mối tương quan giữa bốn yếu tố cấu thành sức cạnh tranh ngành thủy sản: điều kiện các yếu tố sản xuất (nguồn nước, con giống, lao động); điều kiện về cầu nội địa và quốc tế; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan (thức ăn chăn nuôi, cơ sở chế biến, dịch vụ logistics); cùng với chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và mức độ cạnh tranh nội bộ dưới sự điều tiết của Nhà nước.

Thứ ba, mô hình Lực hấp dẫn (Gravity Model) trong thương mại quốc tế (Phạm Thị Ngân & Nguyễn Thanh Tú, 2015), khẳng định kim ngạch xuất khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi quy mô kinh tế của các bên đối tác, khoảng cách địa lý và các rào cản thuế quan, phi thuế quan. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: Quản lý nhà nước về xuất khẩu, Rào cản kỹ thuật thương mại (TBT/SPS), Cơ chế phân cấp quản lý hành chính và Chuỗi giá trị ngành hàng thủy sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong mốc thời gian từ năm 2017 đến năm 2021:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp chính thống từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, báo cáo chuyên ngành của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Luật Thủy sản 2017, Nghị định 26/2019/NĐ-CP, Nghị định 17/2018/NĐ-CP.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế và phỏng vấn chuyên sâu với cỡ mẫu gồm 35 cán bộ quản lý chuyên trách tại các phòng ban trực thuộc Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Hải quan Móng Cái cùng các nhà quản trị doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản trên địa bàn. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các chủ thể trực tiếp tham gia điều hành chính sách và vận hành xuất khẩu.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm: phương pháp thống kê mô tả nhằm lượng hóa quy mô, tốc độ tăng trưởng sản lượng và chuyển dịch cơ cấu lao động; phương pháp so sánh chuỗi thời gian (time-series analysis) để đánh giá biến động kim ngạch và vốn đầu tư; kết hợp phương pháp tổng hợp, phân tích thể chế nhằm chỉ ra các khoảng trống chính sách. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này đảm bảo tính khách quan, phản ánh chính xác tác động của các công cụ quản lý nhà nước đối với chỉ số tăng trưởng sản lượng thủy sản (bình quân 4,00%/năm) và dung lượng thị trường trong giai đoạn nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với xuất khẩu thủy sản tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2017 – 2021 mang lại bốn phát hiện trọng tâm:

Một là, sản lượng thủy sản duy trì đà tăng trưởng ổn định nhưng cơ cấu còn phụ thuộc nặng nề vào khai thác tự nhiên. Tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh tăng từ 28.736 tấn năm 2017 lên 32.838 tấn năm 2021 (tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 4,00%/năm). Trong đó, sản lượng khai thác luôn chiếm ưu thế vượt trội với trên 20.000 tấn/năm (đạt 21.236 tấn năm 2021, chiếm 64,67% tổng sản lượng), trong khi sản lượng nuôi trồng chỉ dao động từ 7.000 đến 10.000 tấn/năm do diện tích đất canh tác nhiễm mặn và bãi triều chưa được khai thác hiệu quả.

Hai là, cơ cấu lao động ngành thủy sản có sự chuyển dịch tích cực nhưng chất lượng nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa. Tổng số lao động ngành thủy sản đạt 38.243 người. Trong giai đoạn 2017 – 2021, tỷ trọng lao động đánh bắt giảm đều từ 42,89% xuống 31,89%; ngược lại, lao động nuôi trồng tăng mạnh từ 36,09% lên 50,98%. Lao động chế biến giữ mức ổn định từ 12,43% đến 15,17%, trong khi lao động dịch vụ hậu cần chiếm tỷ lệ thấp dưới 6%. Đáng chú ý, tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ nghề toàn tỉnh năm 2020 chỉ đạt hơn 48%, tạo rào cản lớn cho việc tiếp thu công nghệ nuôi trồng và chế biến tiên tiến.

Ba là, năng lực chế biến xuất khẩu và quy mô đầu tư hạ tầng còn ở mức rất khiêm tốn. Đến năm 2021, toàn tỉnh chỉ có 3 nhà máy sơ chế, chế biến thủy sản với tổng công suất vỏn vẹn 8 tấn/ngày (tăng từ mức 2 nhà máy, công suất 3 tấn/ngày giai đoạn 2017 – 2018). Vốn đầu tư vào ngành thủy sản giai đoạn 2017 – 2021 chỉ đạt hơn 443 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng rất thấp (từ 2,73% đến 7,26% tổng vốn đầu tư toàn tỉnh). Giá trị tài sản cố định mới tăng thêm của ngành thủy sản chỉ chiếm 4,19% tổng tài sản cố định tăng thêm của toàn địa phương.

Bốn là, dư địa mặt nước nuôi trồng chưa được khai thác tương xứng và chuỗi tiêu thụ dễ bị tổn thương. Tính đến hết năm 2021, tổng diện tích có khả năng nuôi trồng thủy sản của Quảng Ninh là 27.890 ha, nhưng diện tích thực tế đưa vào sử dụng mới đạt khoảng 6.972,5 ha, tương ứng tỷ lệ sử dụng chỉ đạt 25%. Khi xảy ra cú sốc thị trường do dịch bệnh vào tháng 4/2020, việc gián đoạn xuất khẩu biên mậu đã làm ứ đọng cục bộ 3.000 tấn ngao hai cùi và 4.500 tấn hàu Thái Bình Dương tại Vân Đồn, Hải Hà và Quảng Yên.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh những bất cập nội tại trong mô hình quản lý nhà nước tại địa phương. Về cơ cấu tổ chức, có sự chồng chéo chức năng giữa Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Cục Hải quan trong quy trình cấp chứng nhận chất lượng, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát dịch tễ. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường chủ yếu xử lý bằng chế tài hành chính mức độ nhẹ, chưa tạo đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm quy chuẩn an toàn thực phẩm.

Trên giác độ phân tích dữ liệu, sự dịch chuyển cơ cấu lao động và khoảng cách năng lực sản xuất có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ cột chồng (thể hiện tỷ trọng lao động đánh bắt giảm 11% và lao động nuôi trồng tăng tương ứng 14,89%) kết hợp cùng bảng ma trận đối sánh giữa diện tích tiềm năng (27.890 ha) và diện tích khai thác thực tế (25%). Biểu đồ đường về vốn đầu tư (dao động quanh mức 2,80% tổng vốn toàn tỉnh) giải thích trực tiếp nguyên nhân công suất chế biến chỉ đạt 8 tấn/ngày, chưa tạo ra bước đột phá về giá trị gia tăng.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các phát hiện của một nghiên cứu gần đây tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long về các điểm nghẽn hạ tầng logistics và sự lúng túng trong quy hoạch chuỗi giá trị. Đồng thời, kết quả này bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho thấy tại các tỉnh biên giới phía Bắc, xuất khẩu thủy sản vẫn phụ thuộc nhiều vào đường biên mậu thô, thiếu các giải pháp hỗ trợ tài chính gián tiếp và quỹ bảo hiểm rủi ro theo chuẩn mực quốc tế như bài học kinh nghiệm thành công của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Kiên Giang.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước và thúc đẩy xuất khẩu thủy sản tỉnh Quảng Ninh phát triển bền vững trong giai đoạn 2023 – 2030, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch không gian biển và nâng tỷ lệ khai thác mặt nước nuôi trồng. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh chủ trì, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành rà soát, tích hợp quy hoạch nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ vào Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2030. Mục tiêu nâng tỷ lệ diện tích mặt nước đưa vào khai thác từ 25% hiện nay lên 50% vào năm 2025 và đạt trên 70% vào năm 2030 (tương đương 19.500 ha), ưu tiên mở rộng các vùng nuôi tôm công nghệ cao và nhuyễn thể tập trung tại Vân Đồn, Đầm Hà và Móng Cái.

Thứ hai, đổi mới chính sách hỗ trợ tín dụng và ưu đãi thuế cho công nghiệp chế biến sâu. Sở Tài chính phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Quảng Ninh tham mưu ban hành cơ chế hỗ trợ lãi suất thương mại (hạn mức hỗ trợ tối đa 70% tổng vốn vay, thời gian hỗ trợ lên tới 9 năm) cho các dự án xây dựng nhà máy chế biến hiện đại. Thực hiện nghiêm Nghị định 17/2018/NĐ-CP về miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước và miễn thuế nhập khẩu dây chuyền máy móc công nghệ cao, phấn đấu nâng tổng công suất chế biến thủy sản của tỉnh từ 8 tấn/ngày lên 50 tấn/ngày vào năm 2028.

Thứ ba, nâng cao hiệu lực kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Sở Công Thương chủ trì liên kết với Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) triển khai cấp mã số vùng nuôi đạt chuẩn VietGAP, GlobalGAP cho 100% cơ sở xuất khẩu trước năm 2026. Đồng thời, Sở Công Thương xây dựng mạng lưới xúc tiến thương mại số, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển mạnh từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch, mở rộng thị trường sang EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản nhằm giảm thiểu rủi ro biến động giá.

Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính hải quan và thành lập quỹ bảo hiểm rủi ro ngành hàng. Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh tiếp tục tối ưu hóa hệ thống thông quan điện tử, cam kết cắt giảm thời gian xử lý thủ tục đối với lô hàng thủy sản tươi sống xuống dưới 24 giờ tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái, hướng tới mục tiêu duy trì kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm đạt trên 45.000 triệu USD. Hiệp hội Thủy sản tỉnh chủ động phối hợp các tổ chức tài chính thành lập Quỹ bảo hiểm rủi ro thiên tai dịch bệnh trong năm 2024 để bảo vệ người nuôi và doanh nghiệp chế biến.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện (Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý Khu kinh tế). Luận văn là cơ sở thực chứng giúp các nhà quản lý xây dựng Đề án phát triển xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2023 – 2030, điều chỉnh quy hoạch phân vùng nuôi trồng và ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất tín dụng sát thực tế.

Nhóm 2: Doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nuôi trồng, chế biến xuất khẩu thủy sản. Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn cảnh về thị trường, hướng dẫn lộ trình chuẩn hóa quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế, tận dụng các gói chính sách ưu đãi thuế, đất đai và giảm thiểu rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại xuyên biên giới.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống dữ liệu chuỗi thời gian 2017 – 2021 phong phú, phương pháp tiếp cận đa chiều kết hợp giữa lý luận kinh tế công và quản lý ngành hàng xuất khẩu cụ thể.

Nhóm 4: Các tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư và hiệp hội ngành nghề (VASEP, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh). Tài liệu giúp các định chế tài chính đánh giá chính xác tiềm năng thị trường mặt nước (với 75% diện tích chưa khai thác) để thiết kế các gói tài trợ vốn trung dài hạn và sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp chuyên biệt.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu tại Quảng Ninh giai đoạn 2017 – 2021 có điểm gì nổi bật? Năng lực chế biến của tỉnh còn rất hạn chế khi toàn địa bàn chỉ có 3 cơ sở sơ chế, chế biến với tổng công suất 8 tấn/ngày vào năm 2021, tăng nhẹ từ mức 2 cơ sở (3 tấn/ngày) năm 2017. Do thiếu công nghệ chế biến sâu, phần lớn sản phẩm thủy sản phải xuất bán dưới dạng tươi sống hoặc sơ chế thô qua đường biên mậu, khiến giá trị gia tăng thu về cho ngân sách địa phương chưa tương xứng với tiềm năng sản lượng trên 32.838 tấn mỗi năm.

Cơ cấu lao động ngành thủy sản của tỉnh chuyển dịch theo xu hướng nào? Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực từ đánh bắt sang nuôi trồng trong tổng số 38.243 lao động toàn ngành. Cụ thể, tỷ trọng lao động khai thác giảm từ 42,89% năm 2017 xuống 31,89% năm 2021 do chuyển đổi mô hình và giảm thiểu tàu bè cũ hỏng. Ngược lại, lao động nuôi trồng tăng mạnh từ 36,09% lên 50,98% nhờ chính sách chuyển đổi các diện tích đồng muối và bãi bồi kém hiệu quả sang nuôi trồng công nghệ cao.

Nguyên nhân chính khiến tỷ lệ sử dụng mặt nước nuôi trồng thủy sản tại Quảng Ninh còn thấp? Tổng diện tích có khả năng nuôi trồng của tỉnh đạt 27.890 ha nhưng tỷ lệ đưa vào khai thác thực tế năm 2021 mới đạt 25% (khoảng 6.972,5 ha). Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quy hoạch không gian biển triển khai chậm, cơ sở hạ tầng vùng nuôi và hệ thống thủy lợi, cảng cá chưa đồng bộ, trong khi vốn đầu tư công bố trí cho thủy sản giai đoạn 2017 – 2021 chỉ chiếm bình quân dưới 3,8% tổng vốn đầu tư toàn tỉnh.

Luận văn rút ra bài học kinh nghiệm gì từ các địa phương như Đà Nẵng và Kiên Giang? Từ Đà Nẵng, luận văn đúc kết bài học về việc linh hoạt ban hành chính sách tài trợ lãi suất vay vốn trung dài hạn để doanh nghiệp hiện đại hóa thiết bị và thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu. Từ Kiên Giang, tỉnh rút ra kinh nghiệm quy hoạch đồng bộ chuỗi nguyên liệu gắn với nhà máy sản xuất bột cá, phụ phẩm nhằm hạ giá thành nuôi trồng và đảm bảo nguyên liệu ổn định cho chế biến xuất khẩu.

Các giải pháp trọng tâm nào được đề xuất để tháo gỡ điểm nghẽn xuất khẩu thủy sản đến năm 2030? Luận văn đề xuất 4 giải pháp đồng bộ gồm: quy hoạch nâng tỷ lệ khai thác diện tích mặt nước nuôi trồng lên 70%; áp dụng gói hỗ trợ lãi suất ngân sách tối đa 70% vốn vay trong 9 năm cho công nghệ chế biến sâu; chuẩn hóa 100% vùng nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP/GlobalGAP; và tối ưu hóa thủ tục hải quan tại cửa khẩu Móng Cái để thông quan hàng tươi sống dưới 24 giờ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung thể chế quản lý nhà nước đối với ngành hàng xuất khẩu thủy sản tại cấp địa phương.
  • Đánh giá thực chứng bức tranh phát triển thủy sản Quảng Ninh giai đoạn 2017 – 2021 với tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân 4,00%/năm và giá trị xuất nhập khẩu lũy kế tại Chi cục Hải quan Móng Cái đạt trên 40.431 triệu USD.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn về công suất chế biến (chỉ đạt 8 tấn/ngày), tỷ lệ sử dụng diện tích nuôi trồng (mới đạt 25%) và tình trạng thiếu hụt nguồn vốn đầu tư công chuyên ngành.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gắn liền với lộ trình 2023 – 2030 về quy hoạch không gian biển, ưu đãi thuế tín dụng, chuẩn hóa chất lượng vùng nuôi và cải cách thủ tục thông quan.
  • Khẳng định tầm quan trọng của việc chuyển dịch cơ cấu từ khai thác tự nhiên sang nuôi trồng thâm canh công nghệ cao nhằm bảo đảm sinh kế cho hơn 38.243 lao động.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa chi tiết các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của ngành thủy sản Quảng Ninh, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho công tác quản lý điều hành kinh tế tại địa phương. Để hiện thực hóa mục tiêu đưa thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn, các cơ quan ban ngành và cộng đồng doanh nghiệp cần sớm bắt tay triển khai đồng bộ quy hoạch vùng nuôi và cơ chế hỗ trợ tài chính ngay từ năm 2023. Các nhà quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác các khuyến nghị trong luận văn để xây dựng chiến lược hành động cụ thể cho đơn vị mình.