Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động - Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động của Việt Nam sang khu vực Bắc Á - Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động của Việt Nam sang khu vực Bắc Á trong thời gian tới Luan van 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Khái niệm xuất khẩu lao động NLĐ đi làm việc ở nước ngoài - thường được gọi bằng thuật ngữ "Di cư lao động quốc tế" là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ lâu và gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư lao động quốc tế, nhưng lý do kinh tế vẫn là lý do chủ yếu.
Di cư lao động quốc tế thường được thể hiện ở hai hình thức là di cư tự do và di cư có tổ chức. Điểm mới trong di cư lao động quốc tế thời kỳ hiện đại là hình thức di cư có tổ chức, NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, có sự can thiệp và quản lý của Chính phủ các quốc gia. Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hoá đem xuất khẩu “bán” là sức lao động sống của con người, còn khách “mua” là chủ sử dụng lao động nước ngoài. Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế giữa các nước trong sản xuất, nhằm bổ sung nhân lực giữa các quốc gia, khắc phục các mặt khó khăn và phát huy sức mạnh vốn có của mỗi quốc gia.
Di cư lao động quốc tế ở Việt Nam thời gian qua có quá trình phát triển riêng, xuất phát từ điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong nước, phụ thuộc vào quy mô hợp tác quốc tế, mức độ mở cửa trong quan hệ quốc tế của nước ta trong từng thời kỳ. Với chủ trương đổi mới được xác định và phát triển từ Đại hội VI của Đảng, TTLĐ trong nước được hình thành và phát triển. Với tư Luan van 10 duy mới khẳng định sức lao động là một loại hàng hoá được đánh giá là một bước ngoặt quan trọng quyết định sự phát triển của TTLĐ trong nước, mở ra khả năng phát triển hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với quy mô, nội dung, hình thức tổ chức, hiệu quả hoàn toàn khác với giai đoạn trước đổi mới (1980-1990). Ở nước ta, người đi XKLĐ (người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng) được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, như sau: " NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này" [23].
Như vậy, NLĐ có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài là hoàn toàn tự nguyện, tuy nhiên họ phải được cơ quan hoặc tổ chức đảm nhận và tổ chức quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau. Đặc điểm của xuất khẩu lao động 1. Xuất khẩu lao động là một lĩnh vực xuất khẩu đặc biệt Đặc trưng cơ bản của hoạt động XKLĐ khác với xuất khẩu các loại hàng hóa khác xuất phát từ tính đặc thù của loại hàng hóa này. Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt vì con người là chủ thể lao động, có tư duy và khả năng làm chủ bản thân.
Vì vậy, trong các điều, khoản ký kết về XKLĐ ngoài các điều kiện quy định như đối với các loại hàng hóa bình thường còn phải có những điều khoản đề cập đến đời sống chính trị, văn hóa của NLĐ. Những điều này xuất phát từ sự khác nhau về phong tục, tập quán, tôn giáo của các quốc gia, các vùng lãnh thổ. Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đối ngoại Đối với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước dân số đông, số người trong độ tuổi lao động lớn thì hoạt động XKLĐ là một trong những giải pháp quan trọng thu hút lực lượng lao động đang tăng hoặc dư thừa ra nước ngoài làm việc và thu nguồn ngoại tệ bằng cách chuyển tiền về nước của NLĐ và các lợi ích khác. Xuất khẩu lao động thể hiện rõ tính chất nhân văn XKLĐ thực chất là xuất khẩu sức lao động, trong khi sức lao động lại gắn bó chặt chẽ với NLĐ.
Do vậy, mọi hoạt động của các doanh nghiệp tham gia XKLĐ không chỉ nhằm mục tiêu lợi nhuận mà còn phải xuất phát từ con người, quan tâm đến lợi ích của người đi XKLĐ. Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động Nếu như trước đây (giai đoạn 1980 – 1990) Việt Nam tham gia TTLĐ, về cơ bản nhà nước vừa quản lý vừa trực tiếp thực hiện về hợp tác lao động với nước ngoài thì ngày nay, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế hầu như toàn bộ hoạt động XKLĐ đều do các tổ chức XKLĐ thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký. Đồng thời, các tổ chức XKLĐ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hiệu quả kinh tế trong hoạt động XKLĐ của mình. Như vậy, các hiệp định, các thoả thuận song phương mà Chính phủ ký kết chỉ mang tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô.
Xuất khẩu lao động diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Tính gay gắt trong cạnh tranh của XKLĐ xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu. Một là, XKLĐ mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm, do vậy, đã buộc các nước XKLĐ phải cố Luan van 12 gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước. Hai là, XKLĐ đang diễn ra trong môi trường suy giảm kinh tế trong khu vực: Nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động nước ngoài như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan….cũng đang phải đối đầu với tỉ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Điều này hạn chế rất lớn đến việc tiếp nhận lao động và chuyên gia nước ngoài trong thời gian từ 5 đến 10 năm đầu của thế kỷ 21.
Như vậy, các chính sách và pháp luật của Nhà nước cần phải lường trước được tính chất cạnh tranh gay gắt trong XKLĐ để có chương trình đào tạo có chất lượng cao để xuất khẩu. Xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất khẩu lao động Trong lĩnh vực XKLĐ, lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoản ngoại tệ mà NLĐ gửi về các khoản thuế, lợi ích của các tổ chức XKLĐ là các khoản thu được chủ yếu là các loại phí giải quyết việc làm ngoài nước, còn lợi ích của NLĐ là khoản thu nhập thường là cao hơn nhiều so với lao động ở trong nước. Do vậy, các chế độ chính sách của Nhà nước phải tính toán sao cho đảm bảo được sự hài hoà lợi ích của các bên, trong đó phải chú ý đến lợi ích trực tiếp của NLĐ. Xuất khẩu lao động là hoạt động thiếu tính ổn định Hoạt động XKLĐ phụ thuộc rất nhiều vào các nước có nhu cầu NKLĐ, do vậy, cần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở nước ngoài đang và sẽ được thực hiện để xây dựng chính sách đào tạo và chương trình đào tạo giáo dục, định hướng phù hợp và linh hoạt.
Chỉ có những nước nào chuẩn bị đội ngũ công nhân với tay nghề thích hợp mới có điều kiện thuận lợi hơn trong việc chiếm lĩnh thị phần lao động ở ngoài nước và cũng chỉ có nước nào nhìn xa, trông rộng, phân tích đánh giá và dự đoán đúng tình hình mới không bị động trước sự biến đổi của tình hình đưa ra chính sách đón đầu trong hoạt động XKLĐ. Các hình thức xuất khẩu lao động [16] 1. Căn cứ theo cách thức tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài a) XKLĐ theo hiệp định giữa Chính phủ với Chính phủ: Hình thức này phổ biến ở giai đoạn 1980 – 1990 ở Việt Nam. Căn cứ vào Hiệp định đã ký, Nhà nước phân các chỉ tiêu cho các Bộ, Ngành, địa phương tiến hành tuyển chọn và đưa NLĐ đi.
Lao động của nước ta làm việc ở các nước được quản lý thống nhất từ trên xuống dưới, sống và sinh hoạt theo đoàn đội, được làm việc xen ghép với lao động các nước. b) XKLĐ trực tiếp theo các yêu cầu của công ty nước ngoài thông qua hợp đồng lao động: Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi hỏi đối tượng lao động đa dạng, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu khác nhau. Các chuyên gia, NLĐ thường được các công ty cung ứng dịch vụ lao động gửi ra nước ngoài lao động có thời hạn theo hợp đồng cung ứng lao động c) XKLĐ đi làm các công trình bao thầu ở nước ngoài, chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng. Các chuyên gia, lao động ra nước ngoài làm việc ở các dự án mà họ đã trúng thầu.
d) Các công ty gửi lao động, chuyên gia ra nước ngoài làm việc ở công ty mẹ hoặc công ty con, hoặc các công ty khác trong cùng một tập đoàn đóng ở các nước khác nhau, hoặc đến làm việc tại các văn phòng đại diện, chi nhánh công ty đặt tại các nước khác. e) Lao động tự do: Tự tìm việc làm ở nước ngoài, sau một thời gian sẽ trở về đất nước 1. Căn cứ theo trình độ người lao động a) Xuất khẩu chuyên gia cao cấp: Những người này ra nước ngoài làm việc với vai trò tư vấn, giám sát, giảng dạy, hướng dẫn kỹ thuật hay đào tạo nghề. b) Xuất khẩu thợ lành nghề: Đây là loại lao động đã được đào tạo một nghề nào đó và khi ra nước ngoài làm việc họ có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải tiến hành đào tạo nữa.
Luan van 14 c) XKLĐ giản đơn: Là loại lao động chưa được đào tạo một loại nghề nào cả nên không có nghề hoặc có nghề ở mức thấp.