Chương 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. Thực trạng về năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực Xuất khẩu lao động sang thị trường Đức đến năm 2022. Một số giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu lao động sang thị trường Đức đến năm 2025.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Những quan điểm lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh Khái niệm “cạnh tranh” từ lâu đã được giải thích bởi nhiều nhà học giả, triết gia trên khắp thế giới. Tuy nhiên trong mỗi phạm vi như lĩnh vực nghiên cứu, khu vực địa lý hay quy mô tổ chức, “cạnh tranh” lại có cách hiểu khác nhau.
Theo nghĩa chung nhất, từ điển tiếng Anh Cambridge Learner's Dictionary đã định nghĩa: “cạnh tranh là một tình huống trong đó ai đó đang cố gắng giành được thứ gì đó hoặc trở nên thành công hơn người khác”. Theo nhà kinh tế học George Joseph Stigler, “cạnh tranh là sự ganh đua giữa các cá nhân … và nó nổi lên khi nào hai hoặc nhiều bên cố gắng đạt được điều gì đó mà tất cả không thể đạt được. Theo Karl Marx, “Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu hơn, Marx đã phát hiện ra “nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều người để ý và tham gia.
Ngược lại, những ngành, lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ có sự thu hẹp về quy mô hoặc là sự rút lui của các nhà đầu tư”. Cạnh tranh trong kinh tế buộc những bên tham gia phải liên tục đổi mới, cải tiến công nghệ và kỹ thuật sản xuất, thiết kế lại quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng và dịch vụ của sản phẩm, nghiên cứu nhu cầu của khách hàng sâu hơn, giảm giá thành, tăng giá trị mang đến cho khách hàng. Nhìn chung, dù các cách định nghĩa trên còn khác biệt, có thể rút ra một số kết luận về cạnh tranh trong kinh doanh như sau: - Trong cạnh tranh, luôn phải có tối thiểu hai chủ thể trở lên. Nếu một thị trường chỉ có một người chơi, đương nhiên người đó không có đối thủ, không cần 10 phải giành giật thị phần từ ai, không phải thay đổi cách vận hành để trở nên tốt hơn.
Khi đó sẽ không xuất hiện cạnh tranh. - Mỗi doanh nghiệp, cá nhân được tự do lựa chọn phương thức cạnh tranh cho phù hợp với mô hình kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, điều kiện bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp để đạt được mục đích cạnh tranh. - Trong cạnh tranh, sẽ có người chiến thắng và kẻ thua cuộc. Doanh nghiệp nào tận dụng được nhiều ưu thế để gia tăng sức mạnh, chiếm lĩnh thị phần, mang lại nhiều giá trị cho khách hàng hơn, sẽ thu được lợi nhuận tương xứng.
Những doanh nghiệp yếu kém, không sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp, không cố gắng tìm ra các phương pháp để giành được thị phần, sẽ bị thu hẹp về quy mô hoạt động, lỗ vốn và phải rời khỏi thị trường. Dựa trên các thông tin trên, tác giả đề xuất khái niệm chung nhất về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua, đấu tranh giữa tối thiểu từ hai chủ thể trở lên để giành được lợi thế hơn trong sản xuất kinh doanh, để đạt được lợi nhuận hoặc kết quả kinh doanh cao hơn đối thủ. Vai trò của cạnh tranh a. Đối với doanh nghiệp Cạnh tranh là điều bắt buộc với mỗi doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh.
Đó có thể là cạnh tranh về số lượng khách hàng, về thị phần, về doanh số, v.v… Cạnh tranh là động lực để doanh nghiệp phát triển, cải tiến, phát minh ra cách làm mới, cách vận hành tối ưu, cách tận dụng các lợi thế của riêng mình. Đối với người tiêu dùng Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tạo ra bước tiến mới về công nghệ, kỹ thuật, sản phẩm, dịch vụ; đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Cạnh tranh khiến giá thành sản phẩm giảm xuống, giúp người tiêu dùng tiết kiệm được ngân sách chi tiêu. Đối với nền kinh tế Cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của tất cả các lĩnh vực, doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Kết quả của cạnh tranh sẽ tạo ra các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, những sản phẩm tốt hơn, giá thành thấp hơn. Cạnh tranh khiến việc kinh doanh ngày càng lớn 11 mạnh, đòi hỏi nhiều nguồn lực như con người, nguyên vật liệu, đất đai. Nhu cầu trong xã hội tăng nhanh và nền kinh tế sẽ lớn mạnh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp” có nhiều cách hiểu khác nhau.
Buckley (1988), Measures of international competitiveness: A critical survey, Journal of Marketing Management, 4:2, 175-200, cho rằng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với hiệu suất lợi nhuận dài hạn của một công ty đủ để chi trả tiền lương cho nhân viên và mang lại lợi nhuận vượt trội cho chủ sở hữu. Cách hiểu này gợi ý rằng việc đo lường năng lực cạnh tranh của một công ty nên thêm cả các phép tính về chi phí, giá cả, lợi nhuận và cả một số đại lượng phi giá cả, như là chất lượng. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh là tập hợp các yếu tố quyết định mức tăng về năng suất làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững.Porter (2009), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng đứng vững trên thị trường, mở rộng thị phần và tăng lợi nhuận thông qua một số thước đo như năng suất, công nghệ, chất lượng, giá trị, sự khác biệt của hàng hóa và dịch vụ. Ngoài ra đó còn là khả năng của doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn đối thủ khác.
Theo giáo trình Quản trị chiến lược (2010), Đại học Kinh tế quốc dân, Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện khả năng và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu về nguồn lợi tức ngày càng lớn. Do đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ban đầu xuất phát từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố bên trong của mỗi doanh nghiệp, ngoài việc được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà còn phải so sánh và đánh giá với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trabold, Harald (1995), Die internationale Wettbewerbsfähigkeit einer Volkswirtschaft, Vierteljahrshefte zur Wirtschaftsforschung, ISSN 0340-1707, 12 Duncker & Humblot, Berlin, Vol.
169-185, giải thích thuật ngữ năng lực cạnh tranh không chỉ được áp dụng cho nền kinh tế quốc gia mà còn cho các ngành, công ty và ở đây có ý nghĩa rõ ràng. Một công ty có thể được coi là có khả năng cạnh tranh nếu nó sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc với chi phí thấp hơn so với các đối thủ trong nước hoặc nước ngoài và do đó có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. (2000), Wissen und Strategiekompetenz als Basis für die Wettbewerbsfähigkeit von Unternehmen, chỉ ra cường độ cạnh tranh ngày càng tăng khiến việc đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài ngày càng khó khăn, thậm chí còn biện minh cho việc sử dụng thuật ngữ “siêu cạnh tranh” khi nói đến môi trường cạnh tranh. Từ đó, có thể hiểu năng lực cạnh tranh là khả năng các công ty duy trì được vị thế của mình trong dài hạn nhờ việc phát huy các điểm mạnh của doanh nghiệp mình tốt hơn các đối thủ khác để mang đến các dịch vụ có chất lượng, giá cả hợp lý, làm thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng để thu được lợi ích cao và vững bền.
Lĩnh vực xuất khẩu lao động và các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành 1. Khái niệm xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là hoạt động đưa người lao động trong nước đi làm việc ở một quốc gia khác trong thời gian nhất định. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ c. Có 5 hình thức xuất khẩu lao động chính Một là, thông qua doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được cấp phép bởi Bộ Lao động - TB&XH đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Hai là, doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài Ba là, tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 13 Bốn là, doanh nghiệp Việt Nam đưa người lao động việt nam đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước ngoài Năm là, người lao động tự ký hợp đồng trực tiếp với chủ sử dụng, không thông qua bên trung gian môi giới, nhưng có báo cáo với các cơ quan chính quyền chuyên trách tại Việt Nam và quốc gia sang làm việc. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu lao động Boston Consulting Group (2013), Own the Future - 50 Ways to Win from the Boston Consulting Group, edited by Michael Deimler, Richard Lesser, David Rhodes, and Janmejaya Sinha, cho rằng điều kiện môi trường quyết định các phong cách chiến lược phù hợp. Vì thế cách tốt hơn là đưa ra các chiến lược trong đó phù hợp với môi trường để tận dụng được lợi thế trước khi người khác đạt được nó. Ngô Kim Thanh (2014), Quản trị chiến lược, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, đưa ra 6 yếu tố môi trường kinh doanh vĩ mô cần phân tích: môi trường chính trị - pháp luật (1), môi trường công nghệ (2), môi trường kinh tế (3), môi trường văn hóa – xã hội (4), môi trường tự nhiên (5), môi trường toàn cầu (6).
Trần Minh Đạo (2014), Marketing căn bản, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, nêu ra 6 yếu tố môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến các doanh nghiệp: môi trường nhân khẩu học (1), môi trường kinh tế (2), môi trường tự nhiên (3), môi trường công nghệ (4), môi trường chính trị (5), môi trường văn hóa (6).