CHƯƠNG 1 Trong chương đầu tiên này, tác giả đã giới thiệu tính cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, trong đó phương pháp nghiên định lượng là chủ yếu. Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày khung lý thuyết tổng thể, các nghiên cứu liên quan và sau đó đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu dựa trên việc kế thừa lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Vài nét khái quát về Doanh nghiệp, Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Doanh nghiệp Tại khoản 7, Điều 4, Luật Doanh nghiệp (68/2014/QH13) do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 26/11/2014 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Như vậy, trước hết Doanh nghiệp phải là một tổ chức, có cơ cấu bộ máy tổ chức rõ ràng; hoạt động theo quy chế và điều lệ của doanh nghiệp phù hợp với luật pháp nước CHXHCN Việt Nam.
Thứ hai, Doanh nghiệp phải có tên đăng ký kinh doanh riêng, phù hợp với qui định của pháp luật về bản quyền, sở hữu trí tuệ, v. Thứ ba, Doanh nghiệp phải có tài sản, có trụ sở giao dịch cụ thể và phải được đăng ký thành lập theo qui định của pháp luật. Cuối cùng, mục đích của Doanh nghiệp là kinh doanh kiếm lời, không vì bất kỳ một động cơ nào khác. Do vậy, bất kỳ tổ chức nào thỏa mãn các điều kiện nêu trên thì được nhà nước công nhận là Doanh nghiệp.2 Doanh nghiệp nhỏ Theo quy định tại Điều 2 và Khoản 2 Điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp nhỏ được quy định cụ thể như sau: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí sau: - Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP.
7 - Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP.3 Cơ sở phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Xác định quy mô doanh nghiệp cần dựa vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể, Nghị định 39/2018/NĐ-CP quy định: Bảng 2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP Lĩnh vực hoạt Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa động Số lao động tham gia BHXH Số lao động tham gia BHXH Nông nghiệp, bình quân năm: từ >10 – 100 bình quân năm: từ >100 - 200 lâm nghiệp, thủy người người sản, công nghiệp, Tổng doanh thu của năm: từ >3 Tổng doanh thu của năm: từ >50 xây dựng - 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn - 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn: từ >3 - 20 tỷ đồng. vốn: từ >20 - 100 tỷ đồng.
Số lao động tham gia BHXH Số lao động tham gia BHXH bình quân năm: từ >10 - 50 bình quân năm: từ >50 - 100 Thương mại, người người dịch vụ Tổng doanh thu của năm: từ Tổng doanh thu của năm: từ >10 - 100 tỷ đồng hoặc tổng >100 - 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn: từ >3 - 50 tỷ đồng. nguồn vốn: từ >50 - 100 tỷ đồng. Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP (2018) 2.2 Vài nét khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 2.1 Cạnh tranh “Cạnh tranh” là một cụm từ luôn được nhắc đến nhiều nhất trong kinh doanh.Marx, nó là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành 8 lấy những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa nhằm đạt được lợi nhuận siêu ngạch.Nordhaus (1989) thì cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành lấy khách hàng hoặc giành lấy thị trường. Do đó, cuộc chiến “cạnh tranh” luôn là một cuộc chiến rất khốc liệt, các đối thủ phải luôn đặt mình vào vị trí phòng thủ và tìm cách tiêu diệt các đối thủ khác để tồn tại.
Tiếp tục kế thừa từ những quan điểm trên, C. Prahalad và Gary Hamel (1990) đã phát triển sâu hơn khái niệm này; các tác giả cho rằng cạnh tranh trong thế giới hiện nay không còn là cuộc chiến giữa các đối thủ cạnh tranh cùng ngành (có cấu trúc rõ ràng) nhằm phân chia giá trị thặng dư mà “cạnh tranh” hiện nay là cuộc chiến giành lấy những cơ hội trong tương lai. Do đó, các đối thủ cạnh tranh không chỉ tập trung vào những vấn đề hiện tại (nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp) mà còn nắm bắt được xu hướng tiêu dùng trong tương lai; từ đó có những định hướng cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mang về hiệu quả cao nhất.L Rubinfeld (2008): “Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người mua và người bán và không một cá nhân người mua hoặc người bán nào có ảnh hưởng đáng kể tới giá cả”; do đó, việc cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh tùy thuộc vào sự lựa chọn của khách hàng; sự cạnh tranh bây giờ giữa các đối thủ cạnh tranh chính là cuộc đua đem lại sự hài lòng cho khách hàng đối với từng sản phẩm, dịch vụ cung cấp. Cùng quan điểm với R.L Rubinfeld (2008), trước đó, Gary Hamel (năm 1990) và Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005) cho rằng “Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ”.
Với lý thuyết “Đại dương xanh”, W.Chain Kim và Renee Mauborgne (2007) cũng cho rằng, cạnh tranh không phải là cuộc chiến đối đầu trực diện giữa các đối thủ cạnh tranh mà cạnh tranh là tìm đến những khoảng trống của thị trường, nơi mà 9 chưa có sự cạnh tranh hoặc sự cạnh tranh là không cần thiết vì luật chơi chưa được thiết lập ở đây, gọi là những “đại dương xanh”. Tóm lại, trong lịch sử nền kinh tế, từ cổ điển đến đương đại, có nhiều quan điểm khác nhau về “cạnh tranh”; từ đối đầu trực diện sang hợp tác, hướng đến khách hàng, hướng đến những khoảng trống của thị trường và hướng đến xu hướng tiêu dùng của khách hàng trong tương lai,v. Tuy nhiên, nhìn chung, “cạnh tranh” có thể hiểu là sự tổng hòa các hoạt động của chủ thể kinh doanh nhằm thích ứng một cách tốt nhất với môi trường kinh doanh để tồn tại và phát triển.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chúng ta có thể xem xét một vài khái niệm về năng lực cạnh tranh DN sau: - Michael Porter (1980) cho rằng năng lực được hiểu là khả năng làm tốt nhất một việc nào đó, khả năng kinh doanh có hiệu quả nhất trong một lĩnh vực hoặc theo một phương thức nào đó. Nói cách khác, có thể diễn đạt năng lực là sở trường, thế mạnh của doanh nghiệp.
Nó bao gồm cả phần “mềm” lẫn phần “cứng”, nghĩa là cả những nguồn lực vật chất lẫn nguồn lực chất xám, ở đây không thể hiểu bằng số lượng hay bằng cấp của lực lượng nhân sự, mà phải hiểu là khả năng, kỹ năng của những nhân sự đó. - “Năng lực cạnh tranh của công ty là khả năng cơ bản trong việc nhận thức được những thay đổi từ môi trường bên ngoài lẫn bên trong và khả năng thích nghi với những thay đổi đó và tạo lợi nhuận dài hạn cho công ty”(Chickan, 2001) - “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một công ty đứng vững trong kinh doanh và đạt được những kết quả mong đợi trên khía cạnh lợi nhuận, giá, tỷ suất sinh lời hay chất lượng sản phẩm và có năng lực trong việc khai thác các thị trường hiện tại và tạo ra thị trường mới” - Asian Development Outlook (2003). - “Khả năng cạnh tranh của DN thể hiện ở khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của DN nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng (so với các đối thủ cạnh tranh) và đạt được các mục tiêu của DN trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế” (Vũ Trọng Lâm, Nguyễn Kế Tuấn và cộng sự, 2006) 10 Với quan điểm nghiên cứu năng lực cạnh tranh của DN dựa trên hiệu quả hoạt động, kế thừa tinh thần của các nhà nghiên cứu đi trước về năng lực cạnh tranh, khái niệm này trong luận văn sẽ được hiểu là khả năng của DN trong việc đương đầu với các đối thủ cạnh tranh nhằm duy trì và nâng cao giá trị của DN cho các bên liên quan.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp a Lợi thế về chi phí Theo Michael E. Porter (1998), một doanh nghiệp được cho là có lợi thế về chi phí nếu chi phí tích lũy của doanh nghiệp đó có được từ việc thực hiện các hoạt động giá trị thấp hơn đối thủ cạnh tranh cùng ngành [10, tr.109]; nguồn gốc của các lợi thế chi phí này sẽ không dễ để các đối thủ cạnh tranh có thể tái tạo hoặc bắt chước làm theo.
Những lợi thế về chi phí sẽ mang lại hiệu quả tốt cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp cung cấp ra thị trường những sản phẩm có giá bán phù hợp, dễ dàng chấp nhận đối với người mua; Và khi đó, Doanh nghiệp có lợi thế về chi phí sẽ không cần phải e ngại bất kỳ một đối thủ nào dù cho họ có tiến hành giảm giá bán. Lợi thế về chi phí của doanh nghiệp trên thị trường được gọi là vị thế chi phí tương đối. Vị thế chi phí tương đối của doanh nghiệp thay đổi tùy thuộc theo sự biến động của: Kết cấu chuỗi giá trị của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác; Vị thế tương đối của doanh nghiệp so với các yếu tố tác động đến chi phí trong mỗi hoạt động.