CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Kiểm định chất lượng là một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đại học sử dụng để khảo sát, đánh giá các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng” (Hội đồng kiểm định giáo dục đại học của Hoa Kỳ - CHEA, 2003). Ở nhiều Quốc gia trên thế giới, hoạt động đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục luôn đồng hành với công tác dạy và học ở các cơ sở giáo dục.
Đánh giá chất lượng nhằm mục đích giám sát quá trình dạy và học từ đó đưa ra những quyết sách về quản lí, không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục có nhiều nội dung khác nhau trong đó có hoạt động tự đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chất lượng giáo dục chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố nhà trường như: Chất lượng hoạt động quản lí, chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tổ chức các hoạt động tại đơn vị. Tại các nước Hoa kỳ, Canada, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật bản… Hiệp hội kiểm định chất lượng giáo dục đã thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục để kiểm định và công nhận múc độ đạt được của các cơ sở giáo dục.
Kiểm định chất lượng giáo dục đã có một lịch sự phát triển lâu dài ở Hoa kỳ và Bắc Mỹ, nhưng trước đây ít được các nước khác biết đến. Hiện nay kiểm định chất lượng giáo dục ngày càng trở nên phổ biến hơn bởi nó chứng tỏ là công cụ hữu hiệu giúp nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, duy trì các chuẩn mực chất lượng giáo dục và không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đánh giá chất lượng nhằm mục đích giám sát quá trình dạy và học từ đó đưa ra những quyết sách về quản lí, dự đoán kết quả đào tạo và không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục có nhiều nội dung khác nhau trong đó có đánh giá các yếu tố điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng sản phẩm giáo dục.
nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất lượng sản phẩm giáo dục chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đặc biệt là yếu tố nhà trường như chất lượng hoạt động quản lí, chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất các trang thiết bị và tổ chức các hoạt động. Các hiệp hội này đã xây dựng các bộ tiêu chuẩn để xác định mức độ đạt được của các cơ sở giáo dục so 7 với các chuẩn quy định. Kiểm định chất lượng giáo dục là một trong những hoạt động đảm bảo chất lượng bên ngoài của trường. Hội đồng các trường quốc tế (CIS) đã nhận trách nhiệm về công nhận kiểm định chất lượng giáo dục tại Châu Âu (thành lập năm 1965) CIS là một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận với hơn 660 trường quốc tế với gần 110 quốc gia trên toàn thế giới.
Thành viên CIS đã dược cấp tư cách công nhận theo chỉ đạo toàn diện và đánh giá kỹ lưỡng và nghiêm ngặt. Các tiêu chuẩn CIS cho công nhân, các trường tự đánh giá phải được theo dõi thường xuyên thông qua việc báo cáo tiến độ và phải trải qua đánh giá lại sau mười năm. Chứng nhận CIS được chấp nhận trên toàn thế giới. Mỹ được đánh giá là nền giáo dục đại học hàng đầu thế giới với những ngôi trường danh tiếng như Harvard, Princeton, Yale, Pennsylvania, MIT.
Một trong những yếu tố chính làm nên thành công này là hệ thống kiểm định chất lượng hoàn chỉnh, thường xuyên đổi mới, đánh giá khách quan và minh bạch thông tin. KĐCLGD đại học ở Mỹ ra đời từ cuối thế kỹ IXX với sự thành lập của các trường đại học và trung học vào năm 1885. Sang thế kỷ 20, thông qua các đạo luật giáo dục. Mỹ từng bước thể hiện vai trò trong công tác kiểm định song công việc này vẫn do các trung tâm kiểm định độc lập thực hiện.
Để đảm bảo tính chính xác, những trung tâm kiểm định phải được Bộ Giáo Dục Mỹ USDE (United States Department of Education) hoặc hội đồng kiểm định Giáo dục Đại học (Council for Higher Education Accreditation) công nhận. Tuy nhiên, một số trung tâm kiểm định vẫn hoạt động dù không được hai cơ quan trên công nhận. Họ có thể là các tổ chức có tên tuổi nhưng không có điều kiện đáp ứng tiêu chuẩn của USDE hay CHEA công nhận. Kiểm định chất lượng là một trong những hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục tại đơn vị, tự kiểm định chất lượng là hoạt động có từ rất lâu dài ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, trước tiên là áp dụng tại các trường Đại học và hiện nay đã áp dụng rộng rãi trên tất cả các bậc học.
Tuy nhiên trước đây ít người biết đến trong quá trình dịch chuyển của nền kinh tế thị trường người ta đã nhận rõ vai trò đặc biệt quan trọng của kiểm định chất lượng giáo dục và dần dần hoạt động tự kiểm định trở thành công cụ hữu hiệu của nhiều nước trên thế giới nhằm duy trì các chuẩn mực chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học. Hoạt động tự đánh giá kiểm định chất lượng trong giáo dục có vai trò quan trọng như bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội nào vì thế nhiều quốc gia trên thế giới, nhà nước quan tâm đến hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở cả hai phương diện lý thuyết và triển khai thực tế. 8 Ngoài ra, các nhóm tác giả Fairman, Peirce và Harris với bài viết “Kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Maine: Nhận thức về chi phí và lợi ích” (High school accreditation in Maine: Perception of cos and benefits) thuộc trung tâm nghiên cứu và Đánh giá giáo dục và phát triển con người thuộc Đại học Maine – Mỹ. Căn cứ vào kết quả kiểm định chất lượng, họ hình thành các loại trường như trường với những mục tiêu khác nhau.
Ở nước ngoài không có khái niệm trường đạt chuẩn quốc gia. Nghiên cứu ở trong nước Trong nhiều thập kỷ qua, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp “trồng người” với quan điểm “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và “đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển” [10, tr. Đảng CS Việt Nam cũng đã có những nghị quyết, chuyên đề về GD&ĐT như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII; kết luận Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành TW khóa IX. Như vậy, có thể thấy sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đến sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam.
Với quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ đã xây dựng chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính Phủ, cụ thể là: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập [9, tr. Ngày 22/8/2018 Thông tư số 17 /2018/TT-BGDĐT, Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học. Thông tư này thay thế các quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục đối với trường tiểu học tại Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên và thay thế Thông tư số 59/2012/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 12 9 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia [7]. Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia là chủ trương lớn mang tính chiến lược của ngành, là yếu tố khách quan của sự nghiệp GD&ĐT, góp phần chuẩn hóa CSVC cũng như nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, nhân viên; từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, các lãnh đạo từ trung ương đến địa phương, các cấp quản lý giáo dục trong phạm vị cả nước, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị- xã hội, các tầng lớp nhân dân đã nghiêm túc triển khai, thực hiện và thu được kết quả nhất định trong những năm gần đây. Nhiều hội nghị, hội thảo, công trình khoa học nghiên cứu bàn về vấn đề vấn đề xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia và đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm như: Tác giả Lê Đình Phong (2017), “Biện pháp quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” [23]. Lê Tiến Thuận (2014), “Biện pháp quản lý xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” [24]. Những đề tài nghiên cứu kể trên cũng đã có những đóng góp đáng kể trong việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận về xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia và đánh giá thực trạng tổ chức và quản lý; thực trạng về đội ngũ giáo viên và nhân viên; thực trạng về chất lượng chăm sóc giáo dục; thực trạng về cơ sở vật chất; thực trạng về XHH giáo dục.
Trên cơ sở đó, vận dụng lý luận vào thực tiễn để phù hợp với từng cấp học, bậc học; phù hợp với từng địa phương, đơn vị cụ thể trong việc xây dựng trường chuẩn quốc gia. Cho đến hiện nay, trên địa bàn huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này.