Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển ĐNGV tiểu học theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay; - Chương 2: Thực trạng phát triển ĐNGV tiểu học quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; - Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ ĐNGV quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội theo yêu cầu đổi giáo dục hiện nay. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 1. Khái niệm phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học 1. Khái niệm nguồn nhân lực NNL là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến nhưng vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo nghĩa thông thường, NNL hay nguồn lực con người là khái niệm mà trong đó con người được xem xét như một nguồn lực cho sự phát triển, nhằm thể hiện vai trò của yếu tố con người. Khái niệm NNL có thể được hiểu là nguồn lực con người (Human resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển KT - XH. Đặc biệt, theo quan niệm của kinh tế học hiện đại, cùng với nguồn lực vật chất (physical resouces), nguồn lực tài chính (finalcial resources), NNL (human resources) là một trong bốn nguồn lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế. Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm, NNL là: “một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. NNL là lực lượng người sẽ và đang có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu lao động của các ngành nghề trong xã hội. Thực chất, đó là kiến thức, trình độ lành nghề và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng trong một cộng đồng nhất định” [31, 13]. Khi được sử dụng như một công cụ điều hành, thực thi chiến lược phát triển KT-XH, NNL bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động.
Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động. Theo Giáo trình Kinh tế NNL của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do nhóm tác giả Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh chủ biên (2008) thì: “NNL là nguồn lực con 12 người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [6, 12]. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau ở mỗi góc độ tiếp cận nghiên cứu, song có thể hiểu: NNL là toàn bộ những người lao động làm việc trong tổ chức, có thể lực và trí lực khác nhau, được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức. Theo quan điểm này, NNL còn được hiểu là sức mạnh tiềm tàng của người lao động hiện đang hoạt động trong các tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có thể được huy động, sử dụng đóng góp cho các hoạt động của tổ chức, quốc gia, khu vực.
Đặc biệt, trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghệ 4.0, NNL càng được coi là một tài nguyên đặc biệt, một nguồn lực của sự phát triển của mọi tổ chức, mọi quốc gia. NNL có chất lượng, sẽ là lợi thế cạnh tranh, tạo sự khác biệt cho mỗi tổ chức nói chung cũng như các tổ chức nghệ thuật, biểu diễn nói riêng. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về NNL nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
* Phát triển nguồn nhân lực Trong công tác quản lý NNL, phát triển NNL là một nội dung rất quan trọng. Về bản chất, phát triển NNL là chức năng của nhà quản lý có liên quan đến việc thiết kế các hoạt động có định hướng nhằm làm tăng các năng lực, kỹ năng hoặc kiến thức của người lao động, hướng dẫn họ vì lợi ích của tổ chức. Với tư cách là một chức năng trong quản lý NNL, tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân thì “Phát triển NNL (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động”. Cùng quan điểm trên, tác giả Trần Khánh Đức cho quan niệm: phát triển NNL là quá trình tạo ra sự biến đổi, chuyển biến về số lượng, cơ cấu và chất lượng 13 NNL phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp độ khác nhau (quốc gia, vùng miền, địa phương…) đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội, nhờ vậy mà phát triển được năng lực tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống, địa vị kinh tế, xã hội của các tầng lớp dân cư và cuối cùng là đóng góp chung cho sự phát triển của xã hội.
Còn theo tác giả Nguyễn Minh Đường, phát triển NNL là phát triển cá thể con người và phát triển đội ngũ nhân lực. Như vậy, về bản chất, phát triển NNL là những hoạt động làm gia tăng giá trị và năng lực cho người lao động, để họ có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng tăng của công việc. Như vậy, có thể hiểu phát triển NNL theo các khía cạnh như sau: 1) Phát triển NNL là một nhiệm vụ của quản lí/quản trị NNL; 2) Phát triển NNL là quản lí phát triển con người. Vì vậy, trong quản lí các chủ thể quản lí không chỉ thực hiện các chức năng quản lí đơn thuần mà cần phải lưu ý đến tất cả các yếu tố liên quan đến con người (tâm lí, tình cảm, lợi ích, văn hóa, ngôn ngữ, dân tộc, tôn giáo,…); 3) Nội dung chủ yếu của phát triển NNL gồm: quy hoạch, tuyển chọn sử dụng, đánh giá, bồi dưỡng, đào tạo lại và xây dựng môi trường làm việc thuận lợi để nhân lực phát triển.
Vì vậy, để phát triển NNL chủ thể quản lí kết nối các nội dung phát triển NNL với các chức năng, nhiệm vụ của quản lí để nâng cao năng lực - hiệu lực - hiệu quả quản lý. Như vậy, các quan niệm khác nhau về phát triển NNL đều tập trung nhấn mạnh đến việc phát triển các năng lực và kỹ năng của người lao động, hướng dẫn họ phát triển vì lợi ích của tổ chức. Nói cách khác, phát triển NNL là gia tăng giá trị vật chất, giá trị tinh thần, đạo đức và giá trị thể chất cho con người, làm cho con người trở thành những lao động có các năng lực, phẩm chất mới cao hơn.2 Khái niệm đội ngũ giáo viên tiểu học ĐNGV nói chung, ĐNGV tiểu học nói riêng là NNL đặc biệt trong giáo dục và đào tạo. ĐNGV có chức năng nhiệm vụ đặc biệt là tiếp nhận và truyền thụ kiến thức cho học sinh, xây dựng và kiến tạo NNL cho tương lai.
Vì thế, trong mọi thời kỳ, ĐNGV luôn được Nhà nước và xã hội đề cao và cũng đòi hỏi rất cao về năng lực và phẩm chất. Về mặt nội hàm, ĐNGV tiểu học nói riêng và giáo viên nói chung được xác 14 định là tập hợp nhà giáo, người làm nhiệm vụ giảng dạy, đào tạo trong các cơ sở giáo dục theo quy định của Nhà nước. ĐNGV là tập hợp các nhà giáo có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức) cùng thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra và được hưởng các quyền lợi theo Luật Giáo dục và các luật khác được Nhà nước quy định. ĐNGV được coi là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức, hiểu biết dạy học và giáo dục, có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực, tài năng của họ đối với nền giáo dục.
Hệ thống pháp luật về giáo dục của Việt Nam cũng đã luật hóa quan niệm về ĐNGV tiểu học nhằm đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức và hành động. Cụ thể, Luật Giáo dục và Điều lệ trường tiểu học đã xác định ghi rõ “giáo viên làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh trong trường tiểu học và cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học” [32, Điều 33]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “ĐNGV trong ngành giáo dục là một tập thể người bao gồm CBQL, GV và nhân viên; nếu chỉ đề cập đến đặc điểm đó của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là ĐNGV và đội ngũ CBQL giáo dục” [18]. ĐNGV tiểu học là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng bậc học tiểu học trở thành cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, tạo điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí và trang bị những cơ sở ban đầu để phát triển toàn diện nhân cách con người trong tương lai.
ĐNGV tiểu học là những người có uy tín, là "thần tượng" đối với tuổi nhỏ.3 Khái niệm phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học Bản chất của phát triển ĐNGV là phát triển NNL trong giáo dục. Phát triển ĐNGV tiểu học được hiểu là hoạt động nhằm giúp cho ĐNGV tiểu học nâng cao năng lực để có thể thực hiện hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng yêu cầu phát triển của Nhà trường trong tương lai.