Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngay từ khi hình thành cơ chế GD-ĐT, cơ chế truyền thụ tri thức, kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau, từ phạm vi cộng đồng này sang cộng đồng khác của con người, những yếu tố hỗ trợ quá trình phát - nhận đã được nhìn nhận như là những công cụ GD, công cụ dạy học. CSVC nói chung và PTDH nói riêng được hình thành, phát triển song hành với sự phát triển, tiến bộ của kho tàng tri thức loài người cũng như cách thức mà loài người lưu giữ, truyền thụ những tri thức đó.
Chính vì vậy, trên thế giới, đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu liên quan đến PTDH từ nhiều góc độ khác nhau. Nhà giáo dục Slovakia-J.Cômenxki (1592-1670) viết: “Điều cần thiết là khởi điểm của nhận thức bao giờ cũng xuất phát từ cảm giác”. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của tính trực quan: “Kiến thức càng dựa nhiều vào cảm giác thì nó càng xác thực”, “Tính trực quan tạo ra khả năng làm cho nhà trường trở nên sinh động, nó dạy cho học sinh hiểu và nghiên cứu thực tế một cách độc lập [1]. Nhà hoạt động văn hóa V.BêlinSki (1811-1848) đã có đóng góp to lớn vào sự phát triển lý thuyết trực quan dạy học.
Tư tưởng của ông gắn liền với tư tưởng dạy học phát triển. Với nhà giáo dục K.Usinxki (1824-1870) thì nguyên tắc trực quan trong dạy học đã được nâng lên một trình độ cao hơn. Ông cho rằng trực quan là cái ban đầu và là nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người. Trực quan làm cho quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh trở nên dễ dàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học tập cho học sinh, là phương tiện tốt nhất giúp giáo viên gần gũi học sinh và là phương tiện quan trọng để phát triển tư duy cho học sinh.
Công trình nghiên cứu của A. Lêonchep (1947) “Những vấn đề tâm lý 6 học của tính tự giác học tập” đã chỉ ra những cơ sở tâm lí học của tài liệu trực quan. Sự phân tích các thuyết khoa học cho rằng, các luận điểm xuất phát từ bất kỳ lý thuyết trừu tượng nào và sự diễn giải các kết luận của nó cần gắn liền với các vật thực, cần dựa trên những cấu trúc trực quan nhất định. “Phát hiện ra ý nghĩa vật lí ủa các trừu tượng toán học, Omculianovski viết: là mặt cần thiết, quan trọng nhất của sự phát triển lý thuyết vật lí.
Thiếu mặt này thì vật lí cuối cùng chỉ là những sơ đồ toán học chứ không phải là lý thuyết vật lí. Chỉ có mặt này mới cho các trừu tượng toán học một thể xác vật lí”. Ở các nước phát triển, hoạt động đào tạo nói chung và hoạt động dạy học nói riêng, PTDH là điều kiện cơ bản để tổ chức hoạt động của một cơ sở giáo dục. Trong hệ thống các tiêu chí kiểm định chất lượng, PTDH chiếm một vị trí quan trọng.
Chính vì vậy, trong các nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý, CSVC và PTDH được khẳng định về tính chất quan trọng; những vấn đề liên quan đến hệ thống, quy mô PTDH, quá trình quản lý, khai thác sử dụng,… cũng được nghiên cứu, xác định những nguyên tắc và giải pháp. Đặc biệt, vấn đề sử dụng, QL PTDH theo định hướng phát triển năng lực người học, đảm bảo thực hiện CLGD đã có nhiều kiến giải mang tính khoa học, thực tiễn. Với mô hình quản lý TBDH trong trường học đã được UNESCO khởi xướng, khuyến khích và bảo trợ trong suốt hơn 50 năm qua tại Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Séc, Ba Lan, Úc. với tôn chỉ “Nhà trường phục vụ nhà trường”.
Tác giả David Dwyer đã nêu quan điểm về sử dụng TBDH hiệu quả khi nhà quản lý coi TBDH như là công cụ, chỉ báo phục vụ cho công tác đánh giá, dự báo chất lượng dạy học của nhà trường và môi trường dạy học của nhà trường. Ở Hoa Kỳ, ngay từ những giờ học đầu tiên về ngôn ngữ, các thiết bị dạy học hiện đại đã được đưa vào giảng dạy, những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, ở bậc tiểu học, học sinh sử dụng trang Web Youtube.com như một tài nguyên học đường [2]. Các nghiên cứu trong nước 7 Các nghiên cứu về phương tiện dạy học Tô Xuân Giáp với công trình: “Phương tiện dạy học-Hướng dẫn chế tạo và sử dụng”, tác giả đã đưa ra cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phương tiện dạy học và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phương tiện dạy học. Theo ông, “Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều” [14].
Nhà xuất bản Hà Nội đã xuất bản "Tài liệu khoá tập huấn của Dự án Việt Úc" (2001) và "Quản lý và sử dụng nhằm tăng cường hiệu quả thiết bị dạy học" (2006) đưa ra được một số phương pháp QL, khai thác, sử dụng CSVC, PTDH vào giảng dạy để đạt hiệu quả cao [12]. Công trình “Quản lý giáo dục” (Bùi Minh Hiền, chủ biên), đã đề cập đến các vấn đề lí luận về vai trò của PTDH trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm PTDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc và giải pháp QL PTDH ở các cơ sở giáo dục trong giai đoạn hiện nay [16]. Trong giáo trình: “Lý luận dạy học ở trường trung học cơ sở” [3] do Nguyễn Ngọc Bảo và Trần Kiểm viết đã dành một chương (chương 5) để viết về phương tiện dạy học. Theo tác giả, phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng phương pháp dạy học.
Bên cạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, hiện nay các trường THCS đã được trang bị nhiều phương tiện dạy học. Vì vậy GV cần phải nắm được khái niệm phương tiện dạy học, các loại phương tiện dạy học, cách sử dụng, bảo quản từng loại phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện dạy học kỹ thuật. Theo tác giả Vũ Trọng Rỹ trong “Tình hình sử dụng TBDH ở trường THCS qua khảo sát các tỉnh, Thành phố” đã nhận định về tình hình sử dụng TBDH của HS thông qua dự giờ lên lớp của GV cho thấy HS THCS ít được trực tiếp sử dụng TBDH, thường chỉ quan sát tranh ảnh, bản đồ, mô hình do GV giới 8 thiệu. Trong trường hợp HS trực tiếp sử dụng TBDH thì thấy nhiều em còn khá lúng túng, GV chưa sử dụng thành thạo TBDH.
Theo tự đánh giá của GV, nguyên nhân chủ yếu là GV chưa được tập huấn hoặc tập huấn chưa đạt 19 yêu cầu về sử dụng TBDH (37,4% số GV được hỏi ý kiến tán đồng với nguyên nhân này); nguyên nhân là TBDH không phù hợp hoặc quá khó chỉ có 10,2% số GV tán đồng; nguyên nhân là giáo viên thiếu ý thức rèn luyện sử dụng chỉ có 4,4% số GV tán thành [23]. Trong tài liệu: “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng cơ sở vật chất và TBDH ở trường phổ thông Việt Nam” tác giả Nguyễn Cảnh Chi, Trần Quốc Đắc. đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, xác định vị trí, vai trò của cơ sở vật chất TBDH ở trường phổ thông. Các tác giả trong công trình nghiên cứu trên đã nhận định: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học.
Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH. Người GV không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lí SV ra sao; SV cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho SV” [10]. Các nghiên cứu về quản lý phương tiện dạy học Lê Thanh Giang với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau” [13], qua đề tài tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng TBDH ở một số trường THPT tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các 9 trường THPT tỉnh Cà Mau như: Tổ chức các tiết dạy biểu diễn các tính năng đưa lại hiệu quả dạy học đối với các TBDH hiện có; Thường xuyên tổ chức các hội thảo, những buổi trao đổi kinh nghiệm về sử dụng TBDH có hiệu quả; Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình sử dụng TBDH của tổ bộ môn, GV; Đảm bảo đủ số lượng TBDH tối thiểu Chất lượng phải đảm bảo.
Nguyễn Thị Bạch Ngọc với đề tài: “Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” [21], tác giả đã nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng, xác lập các biện pháp quản lý phương tiện dạy học có hiệu quả của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay gồm các biện pháp: Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về vai trò của thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học trong trường THPT; Tăng cường việc xây dựng, mua sắm, trang bị thiết bị dạy học đủ số lượng và đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu chất lượng dạy học; Tập huấn kỹ năng, hướng dẫn sử dụng TBDH có hiệu quả cho giáo viên; Tăng cường quản lý việc bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị dạy học.