mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên các trƣờng tiểu học huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên các trƣờng tiểu học huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Đa số các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên, luôn xem đây là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Những giáo viên có năng lực, phẩm chất sẽ là nhân tố quyết định đến chất lƣợng giáo dục, chất lƣợng học tập của học sinh. Việc tạo mọi điều kiện để mọi ngƣời có cơ hội học tập, học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phƣơng pháp giảng dạy phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phƣơng châm hành động của các cấp quản lý giáo dục.
Các quốc gia trên thế giới và nhiều tác giả đã có những công trình nghiên cứu về hoạt động bồi dƣỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên nhƣ sau: Tại Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục nhƣ: M. Khuđominxki…đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lƣợng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả. Muốn nâng cao chất lƣợng dạy học phải có đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn. Họ cho rằng kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trƣờng phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý bồi dƣỡng, phát triển đội ngũ.
Ở Pháp, một trong những quốc gia có nền giáo dục phát triển ở Châu Âu, Bộ Giáo dục quốc gia đã xây dựng 49 nguyên tắc mới cho giáo dục, trong đó có đề cập đến vấn đề đào tạo, bồi dƣỡng thƣờng xuyên cho giáo viên. Nguyên tắc chính yếu trong bồi dƣỡng và đào tạo công chức, viên chức phục 7 vụ nền công vụ tập trung nhấn mạnh vào tính chủ động và thực tiễn. Cụ thể là trong 3 năm, nếu công chức không đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng thì có quyền đề nghị đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng hoặc đề nghị cơ quan quản lý giải thích vì sao họ không đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng. Trong những thập niên gần đây, Phần Lan là nƣớc có nền giáo dục phát triển nhanh.
Theo kết quả của Dự án đánh giá học sinh quốc tế (PISA), trình độ học sinh Phần Lan luôn xếp hàng đầu. Nguyên nhân của thành tựu giáo dục ngoạn mục đó là nhờ Phần Lan chú trọng đào tạo và bồi dƣỡng giáo viên. Triết lí và quy trình đào tạo khoa học của họ đã giúp đào tạo ra đƣợc những GV có trình độ cao mà ít quốc gia nào theo kịp. Nghề GV đƣợc xã hội rất coi trọng.
Ngành đào tạo GV đối với học sinh tốt nghiệp cấp 3 trở thành ngành học rất đƣợc ƣa chuộng. Những học sinh đƣợc chọn đào tạo trở thành GV đều là các em đam mê, tâm huyết và đa tài, có kỹ năng sƣ phạm. Chƣơng trình đào tạo GV ở nƣớc này, ngoài việc học về phƣơng pháp giảng dạy, còn đƣợc trang bị kiến thức khoa học về phát triển con ngƣời theo độ tuổi. Chính vì vậy, GV Phần Lan không chỉ đơn thuần là một nhà giáo mà đƣợc xem là nhà nghiên cứu về giáo dục độc lập.
Tại Nhật Bản, việc bồi dƣỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với ngƣời lao động sƣ phạm. Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phƣơng thức bồi dƣỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi cơ sở giáo dục cử từ 3 đến 5 giáo viên đƣợc đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phƣơng pháp dạy học. Ở Hàn Quốc, việc bồi dƣỡng GV là bắt buộc.
Bồi dƣỡng GV đƣơng nhiệm nhằm trangbị cho GV lý luận và phƣơng pháp luận về giáo dục để nâng cao khả năng vàhiệu quả giảng dạy trong lớp học. Mỗi chƣơng trình bồi dƣỡng thƣờng kéo dài 182 giờ. Các chƣơng trình bồi dƣỡng đƣợc thiết kế 8 riêng cho từng đối tƣợng. Chƣơng trình cũng đƣợc phân loại cho phù hợp với mục đích bồi dƣỡng, bao gồm: Bồi dƣỡng vềsoạn thảo chƣơng trình giảng dạy; đào tạo số hoá thông tin, dữ liệu; bồi dƣỡng chung; bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm,.
Những ngƣời thực hiện chƣơng trình này sẽ quyết định nội dung và thời gian cho mỗi khoá bồi dƣỡng. Nội dung bồi dƣỡng thƣờng chú ý đến những kiến thức mới, những phƣơng pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới. Ở nƣớc Anh, bồi dƣỡng GV đƣợc tiến hành thông qua chƣơng trình phát triển chuyên môn liên tục thông qua mạng lƣới liên trƣờng; Bồi dƣỡng qua các khoá học chuyên sâu, hội thảo, hợp tác. Thông qua các hoạt động này, GV đƣợc bồi dƣỡng, nâng cao năng lực chuyê môn, nghiệp vụ, đƣợc trao đổi, hợp tác với các giáo viên của các trƣờng, các quốc gia trên thế giới [18].
Tại Philippin, khi nghiên cứu về hoạt động bồi dƣỡng giáo viên các nhà nghiên cứu lại tiếp cận ở các mô hình nhƣ: Mô hình bồi dƣỡng tại trƣờng phổ thông phải diễn ra trong suốt cả năm học còn mô hình phân tầng thời gian thì bồi dƣỡng k o dài trong kỳ nghỉ h và đầu năm học mới; mô hình theo cụm bồi dƣỡng diễn ra theo đợt khi cần; mô hình học tập từ xa đƣợc diễn ra thƣờng xuyên theo sự lựa chọn của mỗi cá nhân. Chƣơng trình hƣớng dẫn GV tập sự BTSA (California, Mỹ) lại đƣa ra thời hạn cụ thể bồi dƣỡng cho GV mới là hai năm. Đây là chƣơng trình bắt buộc, thời điểm thực hiện bồi dƣỡng do từng GV lựa chọn căn cứ trên năng lực thực hiện so với bộ chuẩn chất lƣợng của chƣơng trình hỗ trợ nghề nghiệp cho GV tập sự [2]. Hội nghị UNESCO tổ chức tại Nê Pan năm 1998 về tổ chức quản lý nhà trƣờng đã khẳng định “Xây dựng, bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”.
Tác giả Eleonora Villegass-Reimers (2003) nghiên cứu về hoạt động bồi dƣỡng giáo viên thông qua một số mô hình nhƣ: Mô hình tổ chức hợp tác giữa 9 các trƣờng hoặc mô hình quy mô nhỏ (trƣờng học, lớp học. Qua đó, tạo mọi điều kiện cho giáo viên đƣợc bồi dƣỡng không chỉ tại lớp học, trƣờng học mà còn đƣợc giao lƣu, học tập với giáo viên các trƣờng khác [23]. Tác giả Marzano đã đƣa ra yêu cầu bồi dƣỡng cho giáo viên một số định hƣớng nhƣ trong tiết học, GV phải biết sơ đồ hóa kiến thức, khắc sâu những kiến thức trọng tâm; thúc đẩy sự hợp tác của học sinh. Theo Marzano, yêu cầu bồi dƣỡng tập trung vào việc tạo sự hợp tác, quan tâm, chú ý của học sinh, từ đó tạo sự đam mê, hứng thú học tập cho học sinh [21].
Qua những nghiên cứu nói trên cho thấy, các quốc gia hiện nay đều rất coi trọng vấn đề bồi dƣỡng giáo viên. Hoạt động bồi dƣỡng đƣợc thực hiện với nhiều nội dung, phƣơng pháp và hình thức nhắm hƣớng tới trang bị cho giáo viên có đầy đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức, trở thành những giáo viên có chất lƣợng cao, góp phần vào công cuộc giáo dục, đào tạo ra những thế hệ học sinh chất lƣợng cho đất nƣớc. Các nghiên cứu trong nước Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên đã đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thƣ gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới”, “Cán bộ và giáo dục phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại”. Trong những năm gần đây, ở nƣớc ta đã có nhiều nhà khoa học, quản lý giáo dục, nghiên cứu về bồi dƣỡng GV.
Các tạp chí, tập san, chuyên san, báo Giáo dục thời đại xuất hiện ngày càng nhiều và càng phong phú về nội dung, 10 vấn đề bồi dƣỡng GV, phát triển đội ngũ GV. Có thể nêu ra một số tác giả sau đây mà công trình nghiên cứu của họ đã góp phần mạnh mẽ nâng cao chất lƣợng đội ngũ GV. Vũ Văn Dụ (2007), “Nâng cao chất lƣợng bồi dƣỡng giáo viên trƣờng phổ thông về sử dụng thiết bị giáo dục” đã đề cập đến nội dung bồi dƣỡng GV đƣợc biểu thị qua tất cả các mặt từ phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, kiến thức chuyên môn và các kỹ năng dạy học cần thiết. Việc lựa chọn nội dung bồi dƣỡng cần phải xuất phát từ thực tiễn GV dạy theo từng môn, từng đối tƣợng HS và từng cấp học [4].
Vũ Xuân Hùng (2010), “Đổi mới r n luyện năng lực dạy học trong thực tập sƣ phạm của sinh viên đại học sƣ phạm kĩ thuật theo tiếp cận năng lực thực hiện” cho rằng cần r n luyện năng lực dạy họ cho GV tƣơng lai ngay khi còn là sinh viên thực tập sƣ phạm 10. Nguyễn Tiến Phúc (2010), “Vận dụng thuyết quản lí hành chính của Henry Fayol trong quản lý hoạt động bồi dƣỡng thƣờng xuyên giáo viên Trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp ở một số tỉnh vùng Tây Bắc” cho rằng để hoạt động bồi dƣỡng năng lực cho giáo viên cần phải chú trọng khâu xây dựng kế hoạch bồi dƣỡng, qua đó sẽ giúp nhà quản lý xác định đƣợc thực trạng chất lƣợng GV, xác định thứ tự ƣu tiên các nội dung để bồi dƣỡng cho GV theo từng năm học, sắp xếp tổ chức, xác định nguồn lực, đội ngũ giảng viên.