CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 9 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.Trên thế giới Trên thế giới hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về phát triển đội ngũ, nguồn nhân lực trong một tổ chức doanh nghiệp hay tổ chức nhà trường về các vấn đề vĩ mô như các công trình nghiên cứu: “The small business of developing people” của ttasc giả Annette Kerr and Marilyn Mcdougall, đề cập đến nhiều về việc phát triển con người, đội ngũ nhân lực, tạo động lực lao động cho các tổ chức, doanh nghiệp nhỏ. Cùng với nội dung về phát triển đội ngũ lao động các tác giả: Garavan, Thomas N, Costine, Pat, Heraty, Noreen xuất bản cuốn sách “The emergence of strategic human resource devolopment” năm 1995. Quyển sách này tập trung vào sự xuất hiện của các khái niệm phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ trực tiếp lao động trong một tổ chức, trong đó xem xét các vấn đề về xuất phát nguồn nhân lực theo các cách tiếp cận khác nhau như thông qua chiến lược đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nguồn nhân lực chính yếu và quan trọng của tổ chức.
Ngoài ra, tác giả Christian Batal (Pháp) đã nghiên cứu thành công bộ sách “ quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước”, hiện nay có rất nhiều nước trên thế giới sử dụng. Christian Batal đưa ra một lý thuyết thổng thể về quản lí phát triển nguồn nhân lực và sử dụng những kết quả nghiên cứu của các khoa học khác như: Giáo dục học, Dự báo… Để đưa ra một bức tranh toàn cảnh về hoàn chỉnh về phát triển nguồn nhân lực. Và một số tác giả khác như Brian E.Becker và Markv A.Huselid cũng có những nghiên cứu về phát triển đội ngũ, nguồn nhân lực nhưng để phục vụ cho quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp. Michel Develay, trong tác phẩm Một số vấn đề về đào tạo GV đã quan niệm: “Ðào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được”.
Ở Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 10 tác phẩm này, Michel Develay đã bàn về các vấn đề như: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của GV… Từ đây, có thể nhận thấy khuynh hướng nghiên cứu về quản lí đội ngũ GV là một trong những hướng nghiên cứu được quan tâm khá nhiều trên thế giới. Theo tổng kết của UNESCO sự thay đổi vai trò của người GV đang diễn ra theo hướng: (1) Người GV phải đảm nhiệm nhiều chức năng hơn so với trước và có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáo dục; (2) Vai trò của người GV đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học tập của HS; (3) Coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập của HS và thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; (4) Yêu cầu người GV phải biết sử dụng rộng rãi các phương tiện dạy học hiện đại, do đó đặt ra yêu cầu trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng cần thiết; (5) Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn các GV cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các GV với nhau; (6) Yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống; (7) Yêu cầu người GV phải tham gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường; giảm bớt và làm thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ đối với HS, nhất là đối với HS lớn và với cha mẹ HS. Trong tác phẩm “ Phương pháp công tác chủ nhiệm lớp” ( NXB Giáo dục Matcơva, 1984), Bôn-đư-rép N. đã trình bày những phương pháp cơ bản về cách thức thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông.
Từ định hướng trên, các nước phát triển đã chỉ ra nội dung GD cho HS có liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp. Những nội dung GD học sinh như: GD kĩ năng sống, GD những giá trị sống. Như vậy, người giáo viên cần tổ chức các hoạt động khác nhau để học sinh có thể tham gia được dễ dàng và học được rất nhiều thứ từ đó. Nhật Bản Nhật Bản là quốc gia có sự phát triển kinh tế vượt bậc trong nhiều thập Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 11 kỷ qua.
Những năm 1980, Nhật Bản đã đặt ra cho hệ thống giáo dục hai vấn đề lớn: 1) Giáo dục phải được phát triển như thế nào để bảo đảm vị trí siêu cường về kinh tế - kỹ thuật của Nhật Bản khi bước vào thế kỷ XXI; 2) Làm thế nào để giữ gìn và phát huy truyền thống Nhật Bản trong quá trình hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện hai vấn đề trên, Nhật Bản đã có nhiều chính sách trong quản lí đội ngũ GVTH: thực hiện nhất quán chính sách ưu đãi và chăm lo đến cuộc sống và trình độ của GV. GVTH có một vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội, GV được quan tâm ưu đãi nhiều về lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng, miễn các khoản đóng góp nghĩa vụ xã hội. GVTH được đào tạo, bao gồm GV dạy nhiều môn và GV dạy các môn đặc thù như nội trợ, âm nhạc.
Các nhà quản lí luôn tạo môi trường để GV cải thiện sự hiểu biết của bản thân như học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ. Kinh nghiệm về việc nhà quản lí cần tạo môi trường để GV cải thiện sự hiểu biết, nghề nghiệp là điều dễ dàng nhận thấy để có thể bổ sung vào hành động của đội ngũ quản lí GDTH trong đề tài nghiên cứu này. Singapore Singapore luôn dành cho GDTH một sự quan tâm đặc biệt, chính sách phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ GVTH là một minh chứng sinh động. Đội ngũ GVTH của Singapore hầu hết đạt trình độ đại học hoặc thạc sĩ.
Bộ Giáo dục trực tiếp quản lí đội ngũ GV và đội ngũ quản lí nhà trường. Trong đào tạo, GVTH được đào tạo từ hai nguồn cơ bản: 1) Đào tạo trực tiếp từ các Viện Sư phạm; 2) Tuyển dụng từ các ngành nghề ngoài sư phạm để đào tạo GV. Những người đã có bằng cấp về các ngành nghề khác muốn trở thành GV phải qua một khóa đào tạo sư phạm 3 năm. Công tác bồi dưỡng GVTH được xác định là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của giáo dục Singapore nhằm không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp của GV.
Hàng năm, GVTH phải tham gia và hoàn thành khóa bồi dưỡng là 100 giờ. GVTH phải luôn đổi mới phương pháp dạy học nhằm Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 12 đáp ứng nhu cầu học tập của các đối tượng HS từ các vùng miền khác nhau [86]. Điều này cho thấy công tác bồi dưỡng GVTH ở Singapore trở thành một giải pháp thường xuyên để quản lí đội ngũ GVTH. Nếu so sánh với định hướng nghiên cứu của đề tài, muốn đảm bảo quản lí đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục thì không những cần đảm bảo việc bồi dưỡng thường xuyên hàng năm mà cần đầu tư có trọng điểm, thật sự hiệu quả thì đội ngũ mới có thể đáp ứng được những yêu cầu mới về giáo dục.
Ở Việt Nam Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15.2004 Ban bí thư Trung ương Đảng nhấn mạnh: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu. đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15. Muốn phát triển kinh tế xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển toàn diện con người. Nguồn lực con người là sự kết hợp hài hoà giữa trí lực, thể lực, nhân cách và kinh nghiệm sống.
Vì thế trong nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực luôn đặt ra mục tiêu phát triển con người. Có con người phát triển đầy đủ và toàn diện thì mới có nhân lực chất lượng cao. Ở nước ta hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất của nhân dân ta được cải thiện và ngày càng được nâng cao, nhân cách con người đã có những biến đổi, bên cạnh mặt tích cực, cũng đã xuất hiện một số mặt tiêu cực, có ảnh hưởng đến công tác giáo dục trong nhà trường. Tình trạng suy thoái về đạo đức của một bộ phận học sinh, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chỉ biết hưởng thụ, không biết cống hiến, chán học, bỏ học, mục đích động cơ học tập chưa rõ ràng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào nhà trường đó là những vấn đề nổi cộm trong những năm gần đây.
Vì vậy nhà trường, gia đình, xã hội cần có sự liên kết chặt chẽ trong việc giáo dục học Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 13 sinh; trong nhà trường vai trò chính là đội ngũ giáo viên và đặc biệt là GVCNL. Khi đề cập đến đội ngũ GVCNL đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: - Cải tiến việc quản lí đội ngũ GVCNL ở trường phổ thông (Đề tài cấp trường) - của Lưu Xuân Mới (Chủ nhiệm đề tài). Trường Cán bộ quản lí Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội 1998. - Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo trong tài liệu “Quản lý giáo dục” đưa ra yêu cầu chung về xây dựng và phát triển đội ngũ GV.
Theo đó, các yêu cầu cần phải chú ý đến là: đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu. Tác giả phân tích các chức năng quản lí trong phát triển đội ngũ GV từ việc lập kế hoạch, tổ chức - chỉ đạo và kiểm tra phải đảm bảo các vấn đề về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Chính việc quan tâm 3 vấn đề: số lượng, chất lượng, cơ cấu của đội ngũ GV là điều kiện cần cho sự phát triển; và chú ý đến tính đồng thuận của đội ngũ GV mới tạo điều kiện đủ cho sự phát triển bền vững của đội ngũ. - Giáo dục học (Chương XVI.
Người GVCNL), của Phạm Viết Vượng. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004.