Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học theo tiếp cận AUN- QA. Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học theo tiếp cận AUN- QA. Giải pháp quản lý chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học theo tiếp cận AUN- QA.
8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN AUN-QA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Quản lý CLĐT giáo viên là nội dung quan trọng trong tổ chức, hoạt động GDĐH ở các trường ĐH/khoa SP, là yếu tố đầu tiên trong việc nâng cao chất lượng của giáo dục nhà trường. Hiện nay trên thế giới, việc quản lý CLĐT theo tiếp cận ĐBCL được nhiều nước quan tâm xem đó là khâu quan trọng trong đổi mới giáo dục góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Những nghiên cứu về quản lý CLĐT GVTH theo tiếp cận AUN-QA chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: Nghiên cứu về CLĐT giáo viên; quản lý CLĐT GVTH; quản lý CLĐT GVTH theo tiếp cận AUN-QA cấp CTĐT.
Những nghiên cứu về quản lý chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học Quản lý CLĐT GVTH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế- xã hội của các quốc gia và tác động vào đời sống của con người. Đây là chủ đề được nhiều học giả, các chuyên gia, các nhà QLGD trong nước và trên thế giới quan tâm. Xu hướng nghiên cứu về chất lượng đào tạo: Trong nghiên cứu về CLĐT Cheng và Tam cho rằng: “Chất lượng đào tạo là đặc trưng của một loạt yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra của hệ thống giáo dục đào tạo mà nó cung cấp các dịch vụ làm thỏa mãn nhu cầu người học và nhu cầu của xã hội về đào tạo” [76]. Trần Khánh Đức chỉ ra chất lượng đào tạo là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấu thành hệ thống đào tạo và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường nhất định [20].
Trần Nam Trung nhận xét: “Chất lượng đào tạo là mong muốn của nhà trường và giảng viên nhằm đem đến sự hài lòng cho các khách hàng của mình như sinh viên và các tổ chức, doanh nghiệp” [58]. Bàn về những nghiên cứu chất lượng đào tạo giáo viên: Dựa trên nghiên cứu tuyển chọn một số tài liệu quốc tế từ 2002 đến 2006 tập trung vào mối quan hệ giữa quá trình QL, tổ chức và khung ĐTGV ban đầu trong khuôn khổ chất lượng của chương trình và nhận xét đặc điểm của các quốc gia Anh, Hoa Kỳ và Úc trong báo cáo về ĐBCL và các yêu cầu pháp lý đào tạo giáo viên ban đầu (ITE) của Bill đưa ra ba nhận định quan trọng dưới đây [71]: (i) Ở Anh giữa các CSĐT và nhà trường (nơi học viên thực tập và làm việc) 9 có sự đẩy mạnh và củng cố việc hợp tác hiệu quả là trọng tâm trong công tác ĐBCL CTĐT, thông qua các thỏa thuận chặt chẽ và bắt buộc; (ii) Giữa ba quốc gia Anh, Hoa Kỳ và Úc đều có sự tương đồng về mục tiêu của ĐBCL, nhưng có sự khác biệt trong quy trình thực hiện; (iii) Có sự khác biệt trong tiếp cận khung khái niệm ở ba quốc gia này: Ở Hoa Kỳ, mỗi CSĐT tự thiết kế khung khái niệm riêng cho ĐBCL dựa trên cơ sở các hướng dẫn của NCATE (Hiệp hội chứng nhận ĐTGV quốc gia). Trong khi đó, ở các quốc gia khác đặc biệt là Anh quốc, khung điều chỉnh và văn bản chính thức về ĐTGV không được coi trọng. Trong nghiên cứu của mình về CLĐT giáo viên Michalak cho thấy hầu hết chuyên gia giáo dục và nhà tuyển dụng thường quan tâm nhiều nhất tới hai vấn đề: ĐTGV trong trường ĐH so với đào tạo nghề mang tính thực tiễn hơn (như ở cao đẳng); và dạy các học phần liên quan đến chuyên môn giảng dạy so với dạy các kĩ năng của người giáo viên [86].
Thực trạng ĐTGV ở nhiều loại hình cơ sở giáo dục (CSGD) đại học (viện sư phạm, viện giáo dục thể chất, viện nông nghiệp…) tạo điều kiện cho học viên sau khi tốt nghiệp được chuẩn bị sẵn sàng cho hai cơ hội việc làm trên thị trường lao động, tuy nhiên song song với nó là khả năng giảm CLĐT và thiếu liên kết với nhu cầu của thị trường. Việc nên tập trung vào ĐTGV ở trường ĐH vì lý do chất lượng được hầu hết chuyên gia và Ban giám hiệu các trường đều đồng tình [80], [86], [87]. Qui trình đào tạo và các năng lực cần có cho GV được tác giả quan tâm khi bàn về văn hóa chất lượng của ĐTGV, đồng thời bàn tới những lạc hậu trong chương trình giáo dục cũng như sự cần thiết cập nhật, tích hợp những năng lực trong đào tạo chuyên môn cho các GV tương lai. Chất lượng giáo viên như thế nào thì chất lượng giáo dục đạt như vậy.
Đúng như Singh đã khẳng định: “Không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó” [42]; Theo Jackson “Giáo viên là người hiểu được học sinh và có khả năng cấu trúc lại nội dung giảng dạy để học sinh có thể tiếp thu được nội dung đó, đồng thời trong khi dạy biết khi nào phải dạy cái gì” [83]. Barnett; Brennan, Vries & Williams; Church; Bogue khi nghiên cứu vấn đề CLĐT ở CSGD ĐH các nghiên cứu chỉ ra 3 yếu tố quan trọng là đầu vào, quá trình và đầu ra [70], [72], [75], [77]. Đầu vào của CLĐT ở các CSGD bao gồm: Đối với người học (trình độ, kinh 10 nghiệm và động lực…); Đối với giảng viên (trình độ chuyên môn, kinh nghiệm đào tạo, sự phát triển đội ngũ…); Cơ sở vật chất: Trạm trại, phòng thí nghiệm, lớp học, thư viện… yếu tố của quản lý, phục vụ và thiết bị. Quá trình của CLĐT ở các CSGD bao gồm: Dạy và học được xem là nội dung chính.
Quá trình giám sát việc giảng dạy, tìm hiểu những khó khăn trong học tập của SV, nghiên cứu các vấn đề sư phạm xuất hiện trong quá trình đào tạo để kịp thời giải quyết là vấn đề có ý nghĩa rất lớn. Đầu ra của CLĐT ở các CSGD bao gồm: Kết quả thi cử (so sánh với số liệu quốc gia). Số người tốt nghiệp có việc làm và việc đánh giá của người sử dụng lao động đối với giáo viên. Frazer quan niệm: “Chất lượng giáo dục đại học là phát triển nguồn nhân lực để tạo ra mặt bằng dân trí có chất lượng cao, chất lượng giáo dục đại học chính là CL nguồn nhân lực quốc gia” [81].
Brubacher & Rudy cho rằng:“Chất lượng giáo dục đại học được thể hiện ở việc đạt được những trách nhiệm xã hội mà GDĐH phải gánh vác, đại học với ý nghĩa là trung tâm tri thức. Chất lượng giáo dục đại học được hợp thành từ chất lượng của tất cả các trường đại học. Không thể có một nền GDĐH có chất lượng nếu đa số chất lượng của các trường đại học ở mức thấp kém, không hoàn thành sứ mệnh mà xã hội giao cho” [73]. Burham đã có nhiều nghiên cứu về CLGD trong các trường học.
Trong cuốn sách Quản trị chất lượng trong các trường học (Managing Quality in Schools) CLGD đã được trình bày ở 5 nội dung và minh họa bằng 10 câu hỏi cụ thể. Theo tác giả, chất lượng của việc dạy học quyết định thành tích của các học sinh, SV và chất lượng cán bộ quản lý, GV quyết định chất lượng giáo dục, vì vậy lãnh đạo nhà trường có ảnh hưởng rất lớn đến CLGD [74]. Theo tác giả Van De Velde và cộng sự: Việc quản lý CTĐT gắn liền với phát triển khung ĐBCL, sự hợp tác giữa các cơ sở ĐT và sự hợp tác giữa các cơ quan: Hiệp hội Liên đại học của Flanders và Hiệp hội Cao đẳng của Flanders) [91]. Nội dung của Khung đánh giá này nhắm tới các CTĐT GV.
Bao gồm: Mục đích và mục tiêu của chương trình; Chương trình học; Cán bộ chương trình; Dịch vụ và đánh giá chất lượng bên trong. Quy trình đánh giá bao gồm ba pha: Chuẩn bị; Đánh giá tại cơ sở và báo cáo. Harris & Sass - Đại học Wisconsin - Đại học Bang Madison Florida nghiên 11 cứu về CLĐT giáo viên và những ảnh hưởng của các loại hình giáo dục và đào tạo khác nhau đối với khả năng giáo viên để thúc đẩy thành tích của người học. Kết quả nghiên cứu chỉ ra bằng chứng mới về tác động của giáo dục chính quy ở trường đại học đào tạo giáo viên và đào tạo nâng cao nghiệp vụ tại chức đối với giáo viên phát triển nghề nghiệp [84].
Các báo cáo tại các diễn đàn hội nghị, hội thảo của các nước phát triển về giáo dục trên thế giới như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Singapore. đã công bố nhiều kết quả nghiên cứu nhiều về CLĐT giáo viên. Cụ thể Hội nghị thượng đỉnh về giáo dục lần đầu tiên (2011) tại New York, lần thứ 3 tại Amsterdam (2013) đã công bố và chia sẻ các kinh nghiệm, kết quả về việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên. Các kết quả nghiên cứu cơ bản là: - Đào tạo giáo viên chủ yếu trong hệ thống các trường sư phạm, đặc biệt là giáo viên trước tiểu học và tiểu học.
Còn giáo viên trung học thường được đào tạo trong các viện ĐH đa ngành. - Ngày càng cố gắng mở rộng lĩnh vực đào tạo giáo viên trước tiểu học. Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về CLĐT trong giáo dục ĐH, các nghiên cứu đã làm rõ những nội dung về CLĐT và CLĐT GV như sau: Phạm Xuân Thanh trong nghiên cứu về CLĐT trong xu hướng hội nhập quốc tế khẳng định: “Toàn cầu hóa kinh tế đã dẫn đến quốc tế hóa, đại chúng hóa, cạnh tranh và hợp tác toàn cầu trong giáo dục đại học. Xu thế này đòi hỏi các nước trong khu vực phải xây dựng một hệ thống giáo dục đại học sao cho chúng có thể so sánh với nhau, công nhận và thừa nhận lẫn nhau, dựa trên những chuẩn mực chung về chất lượng giáo dục đại học.
Khi đó, chất lượng đào tạo trong trường đại học sẽ đóng vai trò quan trọng” [48]. Trần Khánh Đức quan niệm: “Chất lượng ĐT không chỉ dừng ở kết quả của quá trình ĐT trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như CSVC, đội ngũ giảng viên,.