Chương 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 1.Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dạy học và dạy học môn tiếng Việt cấp tiểu học -Khái niệm dạy học: Khái niệm dạy học đã được rất nhiều ngành khoa học khác nhau bàn đến như: điều khiển học, tâm lý học, giáo dục học,. Có thể nêu dẫn một số khái niệm dạy học cụ thể sau đây: Ở góc độ điều khiển học khái niệm dạy học được trình bầy như sau: “Dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy với trò nhằm điều khiển - truyền đạt và tự điều khiển - lĩnh hội tri thức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục” [10; tr 51]. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn xem xét khái niệm dạy học từ góc độ khoa học Tâm lý học và đưa ra khái niệm như sau: “Sự học được hiểu là sự biến đổi hợp lý hoạt động và hành vi” [42; tr 148]; Các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt ở góc độ giáo dục học “Dạy học - một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn - là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất của nhân cách người học” [27; tr 22].
Từ việc phân tích các khái niệm dạy học nêu trên, luận văn xác định khái niệm dạy học như sau: Dạy học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập. - Khái niệm dạy học môn tiếng Việt ở cấp tiểu học: Môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt; về tự nhiên, xã hội và con người; về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh. 11 Luan van Dạy học môn tiếng Việt ở cấp tiểu học được xác định như sau: Dạy học môn tiếng Việt cấp tiểu học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy môn tiếng Việt của giáo viên và hoạt động học môn tiếng Việt của học sinh. Trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập môn tiếng Việt của mình nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập môn tiếng Việt đặt ra và phát triển năng lực tiếng Việt cho bản thân.
Khái niệm dạy học môn tiếng Việt cấp tiểu học theo hướng phát triển năng lực người học Trước khi xác định khái niệm dạy học môn tiếng Việt cấp tiểu học theo hướng phát triển năng lực người học, nghiên cứu này sẽ phân tích và xác định các khái niệm như: khái niệm năng lực, khái niệm phát triển năng lực người học, khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học. -Khái niệm năng lực: Từ điển Tiếng Anh có 3 từ chỉ khái niệm năng lực: Ability: năng lực theo nghĩa có khả năng cho phép cá nhân thực hiện hoạt động về thể chất và tinh thần; Capacity: năng lực theo nghĩa có khả năng tạo ra cái gì, làm được, hiểu được, học được trong điều kiện khó khăn; Competence: năng lực theo nghĩa có khả năng thực hiện công việc [45]. Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa năng lực bao gồm: a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao [44]. Chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định” [dẫn theo 20].
Nguyễn Quang Uẩn xem năng lực là “tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cánhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả" [42]. Từ việc phân tích các khái niệm về năng lực nêu trên, trong nghiên cứu này xác định khái niệm năng lực như sau: Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ liên quan với nhau, có ảnh hưởng tới khả năng hoàn thành công việc hay hiệu suất của một cá nhân, có thể đo lường thông qua các chuẩn mà cộng đồng chấp nhận và có thể được cải tiến thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. 12 Luan van Cấu trúc của năng lực bao gồm: tri thức, kỹ năng và thái độ, năng lực bao gồm nhiều thành phần. Thông thường năng lực bao gồm 02 loại: năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội.
Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học (Ở các tài liệu khác nhau có thể gọi bằng các tên khác nhau năng lực chính, năng lực nền tảng, năng lực chủ yếu, kĩ năng chính, kĩ năng cốt lõi); Năng lực cụ thể chuyên biệt là năng lực được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó (Năng lực môn học cụ thể để phân biệt với năng lực chung). -Khái niệm phát triển: Trước khi xác định khái niệm phát triển năng lực học sinh, luận văn nêu dẫn một số khái niệm phát triển của các nhà khoa học và xác định khái niệm phát triển của luận văn, có thể nếu dẫn một số khái niệm phát triển như sau: Đại tự điển Tiếng Việt Nguyễn Như Ý chủ biên: “Phát triển là biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [50]. Từ điển triết học:“Phát triển là quá trình vận động đi từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện” [48]. Như vậy có thể xác định: Phát triển là quá trình tăng trưởng về số lượng và biến đổi về chất của sự vật hiện tượng đã có, đã xây dựng nhưng chưa hoàn chỉnh, chưa đầy đủ được tiếp tục nâng cao để đáp ứng yêu cầu hiện thực khách quan.
Phát triển năng lực học sinh là một nhiệm vụ thường xuyên, đặc biệt quan trọng đối với các trường tiểu học. Phát triển năng lực người học là nhằm làm cho các năng lực chung và năng lực đặc trưng cho từng môn học/lớp học/cấp học được hình thành, củng cố và hoàn thiện ở người học. Ở trường tiểu học, vấn đề phát triển năng lực học sinh tiểu học phải được đặt ra theo quan điểm toàn diện, thông qua các hoạt động giáo dục cơ bản của nhà trường, trong đó có hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học môn tiếng Việt nói riêng, được tổ chức một cách đồng bộ. Với khái niệm phát triển như trên phát triển năng lực học sinh là quá trình tăng lên về số lượng và chất lượng năng lực của học sinh (năng lực chung và năng lực chuyên biệt) - Về lượng: là tăng lên về số lượng các năng lực học sinh cụ thể cần thiết của học sinh phù hợp với điều kiện và hoạt động của học sinh.
- Về chất lượng: là tăng lên ở mức độ cao hơn, trình độ cao hơn của các năng lực cụ thể của học sinh đáp ứng yêu cầu điều kiện mới, giúp cho học sinh thích ứng tốt hơn và hoàn thành tốt hoạt động học tập cũng như các hoạt động khác trong nhà trường và ngoài xã hội. - Khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học: 13 Luan van Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một định hướng tiếp cận dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS. Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất,năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây. Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Toàn khái niệm dạy học theo tiếp cận năng lực học sinh: “Dạy học theo tiếp cận năng lực học sinh là quá trình cộng tác của người dạy và người học nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành thái độ để người học có khả năng vận dụng liên kết tổ hợp những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thái độ một cách hợp lý để thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình học tập, đồng thời giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiễn trong cuộc sống” [35]. Theo tác giả Bùi Đức Thiện khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học như sau: “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học có thể hiểu là một chiến lược giảng dạy, trong đó quá trình học tập dựa trên năng lực, quá trình giảng dạy dẫn người học đến chỗ làm chủ những kỹ năng cơ bản và những kỹ năng sống cần thiết của cá nhân để hòa nhập tốt vào hoạt động lao động ngoài xã hội” [37].