CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG ĐÈ 1. TONG QUAN NGHIEN CUU VAN DE KT-DG két quả học tập của HS là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy học và công cụ để đo lường kết quả học tập của HS chính là hệ thống câu hỏi. Kiểm tra, thi cử, đánh giá đã hình thành và phát triển từ rất sớm cùng với sự tồn tại và phát triển của hoạt động giáo dục, cử tuyển. Những khu vực, quốc gia có nền giáo dục phát triển sớm như vùng Ả Rập hay Trung Quốc là những nơi có chế độ kiểm tra, thi cử hình thành và phát triển sớm nhất, công cụ để đo lường thường là quan sát, vấn đáp.
Kiểm tra viết chủ yếu là các đề luận được bảo mật cho đến khi giao cho thí sinh. Khi sự phát triển của khoa học công nghệ nhanh chóng làm cho tri thức của xã hội loài người tăng lên nhanh chóng và học tập trở thành nhu cầu không thể thiếu của cả cộng đồng. Sự phát triển giáo dục cả về số lượng cũng. như những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng làm cho vai trò KT-DG ngày.
càng quan trọng. Việc đánh giá đúng kết quả dạy học so với yêu cầu của mục tiêu đặt ra và đảm bảo nhanh chóng, khách quan, chính xác. với một số lượng lớn HS đã trở thành một nhu cầu cấp thiết, vì vậy KT-ĐG bằng trắc nghiệm khách quan ra đời và sự phát triển của nó kèm theo sự cần thiết phải có một lượng lớn câu hỏi được sử dụng đề tạo đề được nhanh chóng, chính vì vậy hình thành một ngân hàng câu hỏi phục vụ cho công tác KT-ĐG. Tuy nhiên, hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng cho việc KT- DG chỉ phát huy mạnh ưu điểm ở một số môn học, các môn học khác vẫn sử dụng phương pháp kiểm tra tự luận.
Ở nước ta, trong những năm gan đây, nhiều công trình nghiên cứu về KT-ĐG bằng trắc nghiệm khách quan được thực hiện như của GS Dương Thiệu Tống, GS Lâm Quang Thiệp, TS Nguyễn Phụng Hoàng, TS Nguyễn An Ninh. bắt đầu từ việc áp dụng thí điểm vào kỳ thi tuyển sinh đại học, đến nay đã áp dụng hầu hết vào các kỳ thi Quốc gia. Từ năm học 2006-2007, nhiều công trình nghiên cứu về triển khai áp dụng và QL KT-ĐG bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đối với môn Vật li đã được đưa vào bồi dưỡng GV như của PGS Lê Công Triêm, PGS.TS Lê Văn Giáo, PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh. và các đề tài luôn đề cập đến biện pháp xây dựng một ngân hàng câu hỏi có chất lượng phục vụ cho công tác KT-ĐG Trong thời gian qua, có nhiều luận án, luận văn về lĩnh vực xây dựng ngân hàng câu hỏi như: “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan giúp học sinh tự kiểm tra — đánh giá kết quả học tập trên máy tính chương III và IV thuộc chương trình Vật lí 10, ban cơ bản” của Phan Thanh Trang (2008); “Góp phần nghiên cứu xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng đề kiểm tra đánh giá môn Hóa học 12 ban khoa học.
tự nhiên Trường THPT Yên Lạc II, tỉnh Vĩnh Phúc” của Phạm Hồng Thủy (2008); “Đánh giá quy trình thiết kế đề thi trắc nghiệm khách quan tai Khoa khoa học tự nhiên và xã hội Đại học Thái Nguyên” của Nguyễn Trường Sơn (2010); “Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững. kiến thức của học sinh và điều chinh hoạt động dạy của giáo viên chương Các định luật bảo toàn, Vật lý 10 THPT ban cơ bản” của Trần Thị Kim Thêu (2011); “Thiết kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dạy học nội dung chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật - sinh học lóp 11 THPT” của Phí Thị Minh Thanh (2012); Tuy nhiên, chưa có đề tài chuyên sâu về việc nghiên cứu các biện pháp QL có hiệu quả việc xây dựng NHD Vat lí phục công tác KT-ĐG kết quả học tập của HS. Về thực tiễn, tại tỉnh Kon Tum, từ năm học 2008-2009, Sở Giáo dục và Đào tạo đã triển khai việc xây dựng NHĐ của một số bộ môn bao gồm cả câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận, trong đó có môn Vật lí, nhưng hiệu quả sử dụng NHĐ này đến nay chưa được rút kinh nghiệm về mặt lí luận và đánh giá một cách đầy đủ, chuyên sâu đối với việc áp dụng cho loại hình trường THPT tại Kon Tum. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1.
Quản lý Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tô chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức. năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [6, tr 1]. QL là sự tác động có chủ đích của chủ thể QL tới đối tượng QL một cách liên tục, có tô chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất. Như vậy, hoạt động QL được tiến hành trong một hệ thống, một tổ chức và hoạt động này có tính hướng đích, đồng thời hoạt động QL là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tô chức.
Nhà QL muốn đạt hiệu quả quán lý cao thì phải nắm quy luật, nguyên tắc QL, đồng thời phải xây dựng các biện pháp QL phù hợp với quy luật tự nhiên, xã hội, tâm lý. Các quy luật, nguyên tắc QL là những yếu tố khách quan nhưng vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể lại mang tính chủ quan của nhà QL. Vì vậy, những biện pháp QL cụ thể của từng nhà QL vừa mang tính vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, tạo nên sự phong phú, đa dạng, phong phú nhưng đều có chức năng chung là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch. Quản lý giáo dục QLGD thuộc lĩnh vực QL xã hội.
Giáo dục là một hệ thống của xã hội với sứ mệnh là truyền kinh nghiệm. lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ trước cho thế hệ sau đề thế hệ sau kế thừa, phát triển một cách sáng tạo; làm cho xã hội, hệ thống giáo dục và bản thân con người phát triển không ngừng. Để giáo dục làm được sứ mệnh đó, QLGD được coi là nhân tố tổ chức, hoạch định kế hoạch - mục tiêu, tổ chức, điều khiển, điều phối, kiểm tra. hoạt động của hệ thống nhằm đạt kết quả tối ưu.
QLGD được hiểu ở nhiều cấp độ: vĩ mô và vi mô. QLGD ở cấp độ vĩ mô bao quát toàn bộ hệ thống giáo dục, đó là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. Khái niệm QLGD được hiểu như trên tương ứng với hệ thống giáo dục trên quy mô cả nước, hệ thống giáo dục của một tỉnh, thành phó, một ngành học hay một cấp học. Hệ thống giáo dục vĩ mô bao gồm nhiều hệ thống con, mỗi hệ thống con có thể hiểu là một cơ sở giáo dục hay một cấp vi mô.
Đối với cấp vi mô, QLGD được hiểu: QLGD là hệ thống những tác động có chủ đích có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL đến tập thẻ GV, nhân viên, HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Kiểm tra Theo ty dién tiếng Việt của Hoàng Phê: "Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" Theo PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh: “Kiểm tra trong giáo dục là nhằm theo dõi thu thập số liệu thông tin về mặt lĩnh vực nào đó làm chứng cứ để đánh giá kết quả học tập, nhằm củng cố, mở rộng, tăng cường việc học tập và phát triển của HS.” [18, tr 20] Trong QLGD, kiểm tra là phương thức thu nhận thông tin về tình hình chất lượng, về nội dung, về tổ chức,. của các hoạt động trong cơ sở giáo dục. Kiểm tra là một hoạt động QL nhằm đo lường kết quả hoạt động, phát hiện những sai lệch so với yêu cầu của mục tiêu hay quyết định QL để có những, điều chỉnh kịp thời nhằm đạt đến mục tiêu QL đề ra 1.
Đánh giá Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuân đã đề ra, nhằm đưa ra những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công. việc Trong đời sống, đánh giá có thể hiểu là nhận thức đúng giá trị của một người hay một vật. Đánh giá cũng có thẻ hiểu là thái độ đối với một hiện tượng xã hội, một hành vỉ của con người theo những nguyên tắc hay những. chuẩn mực nhất định.
Trong QLGD, đánh giá là đưa ra nhận định tông hợp về các dữ kiện đo lường được qua thanh tra, kiểm tra bằng cách đối chiếu, so sánh với những chuẩn mực đã được xác định trước đó. Đánh giá có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của một cá nhân hay một tổ chức. Nếu được đánh giá đúng, chỉ rõ những mặt mạnh, mặt yếu một cá nhân hay tổ chức sẽ giúp cho cá nhân nhân hay tổ chức đó phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu, tạo động lực để phát triển và tự hoàn thiện. Nếu được đánh giá cao hơn thực chất đang có sẽ dẫn đến chủ quan, tự mãn; ngược lại nếu đánh giá thấp hơn sẽ dễ tạo ra sự chán nản, mắt tự tin, và sẽ mắt động.
lực phần đấu. Đánh giá vừa mang tính khách quan dựa vào kết quả thanh tra, kiểm tra nhưng cũng mang tính chủ quan phụ thuộc vào trình độ năng lực, vị trí xã hội, thế giới quan, tâm lý tình cảm của người đánh giá. Nhà QL phải tìm ra những. công cụ đo lường đáng tin cậy, phải học tập để nâng cao năng lực và hạn chế những yếu tố tâm lý chủ quan làm sai lệch, từ đó có được những đánh giá thực sự khách quan, khoa học, và có những quyết định QL thích hợp nhằm đạt được mục tiêu QL một cách tối ưu.