Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý vốn kinh của doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích Thực trạng quản lý vốn kinh doanh tại Tổng Công ty xăng dầu quân đội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý vốn kinh doanh tại Tổng Công ty xăng dầu quân đội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về Vốn, vốn kinh doanh Với các doanh nghiệp trong bất cứ lĩnh vực nào của nền kinh tế thì vốn kinh doanh là một yếu tố vô cùng quan trọng trong SXKD. Có rất nhiều quan điểm đưa ra về vốn kinh doanh, tuy nhiên tùy vào góc độ nhìn nhận và đánh thì vốn kinh doanh có những quan điểm khác. Samuelson (1992) cho rằng: “vốn là “hàng hóa” được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là “đầu vào” cho hoạt động sản xuất của một DN”.
Như vậy, VKD có thể tồn tại dưới cả hình thái tiền tệ và hình thái hiện vật như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, hàng hóa trung gian. Theo quan điểm này mới cho thấy trạng thái biểu hiện của vốn, vốn chỉ tham gia vào quá trình sản xuất mà chưa tham gia vào quá trình kinh doanh, chưa thể hiện đầy đủ mục đích sử dụng vốn. Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch(2011): “Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình SXKD tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính.
Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. Đất đai không được coi là vốn”. Theo quan điểm này cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, song chưa cho thấy mục đích sử dụng vốn.
Thực tế nghiên cứu cho thấy, quá trình SXKD của DN được thực hiện liên tục qua 3 khâu: dự trữ sản xuất, sản xuất, lưu thông. Do đó VKD của DN cũng vận động không ngừng, tạo ra sự tuần hoàn và luân chuyển vốn. Qúa trình luân chuyển được bắt đầu từ hình thái tiền tệ (T) sang hình thái hàng hóa (H) cụ thể: Khi DN mua sắm các yếu tố đầu vào là TLSX và SLĐ, qua quá trình sản xuất giá trị TLSX và SLĐ sẽ được chuyển dần vào giá trị sản phẩm và vốn trở lại hình thái (H’). Kết thúc việc tiêu thụ sản phẩm, vốn trở lại hình thái tiền tệ (T’).
Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của DN, số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo bù đắp toàn bộ các chi phí đã bỏ ra và có lãi. Như vậy, số tiền đã ứng ra ban đầu không những được bảo toàn mà nó còn được tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại. Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo của 12 SXKD được gọi là vốn. Vốn được biểu hiện cả bằng tiền lẫn cả giá trị vật tư tài sản và hàng hóa của DN, tồn tại dưới cả hình thái vật chất cụ thể và không có hình thái vật chất cụ thể.
Ở nước ta, cũng có một số quan điểm về vốn được đưa ra trong thời gian gần đây. Nhóm tác giả Vũ Duy Hào & Trần Minh Tuấn (2019) giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng “Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. Theo các nhà khoa học Bùi Văn Vấn, Vũ Văn Ninh (2015), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính cho rằng, “vốn kinh doanh của DN là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của DN”. Theo đó, có thể hiểu vốn kinh doanh chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà DN đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Bên cạnh đó, khái niệm về vốn được đưa ra trong nghiên cứu của một số tác giả như sau: “Vốn là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố đầu vào (nhà xưởng, máy móc thiết bị, vật tư hàng hoá, nguồn nhân lực, tiền bạc, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, .) được huy động và sử dụng cho quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời”. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tư liệu sản xuất, được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý và có kế hoạch vào hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận. Qua phân tích trên, tác giả đồng nhất quan niệm về VKD trong giáo trình Tài chính DN của Học viện tài chính: VKD của DN là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của DN. Nói các khác, đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà DN đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Khái niệm trên cho thấy một sự phân định giữa tiền và vốn. Thông thường có tiền sẽ làm nên vốn, nhưng tiền chưa hẳn là vốn. Tiền muốn trở thành VKD thì phải thỏa mãn đồng thời một số điều kiện sau: 13 Một là: Tiền phải đại diện cho một lượng tài sản có thực; Hai là: Tiền phải được tập trung, tích tụ đến một lượng nhất định đủ để đầu tư vào một dự án kinh doanh; Ba là: Tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Khái niệm về quản lý vốn kinh doanh Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010) cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”.
Còn theo tác giả Đặng Bá Lãm (2005), “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”. Từ đó có thể đưa ra khái niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” Từ khái niệm quản lý kết hợp với khái niệm vốn kinh doanh ở trên, có thể quái quát rằng: Quản lý vốn kinh doanh là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên vốn kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu trong quản lý vốn kinh doanh. Nội dung quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Xây dựng kế hoạch quản lý vốn kinh doanh của DN 1. Xác định mục tiêu quản lý vốn kinh doanh Mỗi DN tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau, mục tiêu của DN được quyết định bởi chủ sở hữu DN.
Dưới góc độ tài chính DN mục tiêu của quản lý vốn kinh doanh trong DN là tối đa hóa lợi nhuận cho DN thông qua tối đa hóa hoạt động tạo lập và sử dụng vốn kinh doanh của DN. Các mục tiêu đó đều nhằm phục vụ mục tiêu bao trùm là tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu DN. Muốn vậy, mọi quyết định liên quan đến vốn kinh doanh cần chú ý đến khả năng tạo ra giá trị, tính quay vòng vốn nhanh và mạnh. Chính vì vậy các DN đều phải chú trọng vào quản lý vốn kinh doanh nhằm các mục tiêu cụ thể như sau: 14 + Định hướng các giải pháp, con đường để tạo lập nguồn vốn kinh doanh, phù hợp với chiến lược phát triển của DN, đặt ra các mục tiêu phát triển vốn kinh doanh của DN + Cung cấp thông tin chính xác kịp thời về tình hình sử dụng vốn kinh doanh của DN + Đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động, đảm bảo khả năng thanh toán, thực thi tốt quyền và nghĩa vụ tài chính của DN.
+ Bảo toàn vốn: Đây là một mục tiêu thận trọng với mục đích chính là bảo toàn vốn và ngăn ngừa tổn thất trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của DN. Mục tiêu này đòi hỏi người chủ DN cần phải có những bước đi, tính toán cẩn thận trước mỗi dự án cũng như quyết định lựa chọn của mình. Mục tiêu bảo toàn vốn thường là mục tiêu đối với các DN mới bắt đầu kinh doanh (start –up) hoặc trong bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng + Tăng trưởng vốn: Đây là mục tiêu mà các DN mong muốn tìm cách tối đa hóa giá trị vốn kinh doanh của mình, sử dụng vốn sao cho hiệu quả, một đồng vốn ở hiện tại sinh sản hơn một đồng vốn trong tương lai hướng đến có lợi nhuận kỳ vọng cao. Các chủ DN sử dụng mục tiêu tăng trưởng vốn nhằm hướng đến tốc độ tăng trưởng vốn cao hơn so với tốc độ của thị trường hoặc của cùng ngành kinh doanh.
Mục tiêu tăng trưởng vốn luôn là mục tiêu chủ yếu của các DN sau khi đã hoạt động được một thời gian trên thị trường + Cân đối cơ cấu vốn: Đây là một mục tiêu mà DN cần phải tái cấu trúc vốn, tỷ trọng giữa vốn chủ sở hữu và vốn đi vay. Để xác định được cơ cấu vốn phù hợp cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh là rất cần thiết. Thông qua cơ cấu vốn ta có thể đo lường được mức độ hiệu quả và tác động của nguồn vốn đến hoạt động của các doanh nghiệp. Xây dựng các văn bản hướng dẫn quản lý vốn kinh doanh Một số văn bản quy phạm pháp luật mà Chính phủ, Bộ tài chính ban hành hướng dẫn quản lý vốn kinh doanh như: 15 Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2015; được sửa đổi, bổ sung bởi: 1.