Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ đối với các cơ e 6 4 quan chuyên môn và tổ chức trực thuộc UBND huyện Cư M’gar. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ đối với các cơ quan chuyên môn và tổ chức trực thuộc UBND huyện Cư M’gar. e 7 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN THƢ, LƢU TRỮ 1.
Những vấn đề chung về công tác văn thƣ, lƣu trữ 1. Khái niệm công tác văn thư Công tác văn thư theo cách gọi truyền thống là công tác công văn giấy tờ. Ngày nay công tác văn thư được hiểu là hoạt động bảo đảm thông tin bằng văn bản phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và điều hành các công việc trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và các đơn vị vũ trang nhân dân.81] Công tác văn thư là một loại hoạt động của bộ máy quản lý, gắn liền với công tác quản lý và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác quản lý nhà nước và là một hoạt động thường xuyên của mọi cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước. Hiện nay, văn bản pháp luật cao nhất về công tác văn thư là Nghị định số 110 2004 NĐ-CP ban hành ngày 08/4/2004 và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 09 2010 NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ.
Nội dung Nghị định là những cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý và tổ chức thực hiện thống nhất công tác văn thư trên toàn quốc. Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 110 2004 NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư quy định: Công tác văn thư bao gồm các công việc về soạn thảo văn bản, ban hành văn bản; quản lý văn bản và tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức; quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư. Như vậy, những công việc như soạn thảo, duyệt ký ban hành văn bản, chuyển giao, tiếp nhận, đăng ký vào sổ, quản lý văn bản, lập hồ sơ,… được gọi chung là công tác văn thư và đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc đối với cán e 8 4 bộ, CCVC mọi cơ quan, tổ chức. Công tác văn thư được áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và đơn vị vũ trang nhân dân gọi chung là cơ quan, tổ chức).
N i dung và yêu cầu cơ bản của công tác văn thư a) Nội dung cơ bản của công tác văn thư Công tác văn thư gắn liền với hoạt động tạo lập, cung cấp xử lý, khai thác thông tin bằng văn bản, bao gồm những nội dung và nghiệp vụ sau: Thứ nhất, soạn thảo và ban hành văn bản: Để văn bản có chất lượng và hiệu quả, Nhà nước và mỗi cơ quan, tổ chức ban hành các quy định về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục, quy trình soạn thảo, ban hành, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản, các yêu cầu về nội dung văn bản để áp dụng thực hiện thống nhất; đồng thời để quản lý, kiểm soát và xử lý vi phạm trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản. Thứ hai, quản lý và giải quyết văn bản: Các quy định của pháp luật và quy định của mỗi cơ quan, tổ chức về tiếp nhận, đăng ký, trình, chuyển giao, giải quyết, lưu văn bản nhằm kiểm soát nguồn thông tin chủ yếu và quan trọng để kịp thời phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành, thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Các nghiệp vụ quản lý và giải quyết văn bản gồm có quản lý, giải quyết văn bản đi và quản lý, giải quyết văn bản đến. Văn bản đi “Là tất cả các loại văn bản, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản chuyên ngành (kể cả bản sao văn bản, văn bản nội bộ và văn bản mật) do cơ quan, tổ chức phát hành.” [5] Văn bản đến: “Là tất cả các loại văn bản, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản chuyên ngành (kể cả bản Fax, văn bản được chuyển qua mạng, văn bản mật) và đơn, thư gửi đến cơ quan, tổ chức.” [5] e 9 4 Nguyên tắc quản lý văn bản: Tất cả văn bản đi, văn bản đến của cơ quan, tổ chức phải được quản lý tập trung tại văn thư cơ quan để làm thủ tục tiếp nhận, đăng ký; trừ những loại văn bản được đăng ký riêng theo quy định của pháp luật.
Những văn bản đến không được đăng ký tại văn thư, các đơn vị, cá nhân không có trách nhiệm giải quyết. Văn bản, hồ sơ, tài liệu phải được lưu giữ, bảo vệ, bảo quản an toàn, nguyên vẹn và sử dụng đúng mục đích trong quá trình tiếp nhận, chuyển giao, giải quyết công việc. Đây là những nguyên tắc mà tất cả những người tham gia vào nội dung và các nghiệp vụ công tác văn thư phải nắm rõ và tuân thủ. Thứ ba, lập hồ sơ và n p lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan: Lập hồ sơ là một nội dung của công tác văn thư.
Hồ sơ được hình thành trong quá trình giải quyết công việc của mỗi cá nhân trong cơ quan, tổ chức. Hồ sơ là sản phẩm công việc ở giai đoạn văn thư và là nguyên liệu đầu vào của công tác lưu trữ. Sau khi công việc được giải quyết xong và theo thời hạn quy định, các cơ quan phải thu thập các hồ sơ về các công việc và hoạt động đã diễn ra, sắp xếp theo trật tự, tổ chức sử dụng cho công việc tiếp theo trước mắt đồng thời làm bằng chứng và phục vụ nhu cầu tra cứu về sau. Văn bản pháp luật và quy định của mỗi cơ quan đều có các nội dung và hướng dẫn nghiệp về yêu cầu đối với một hồ sơ; quy trình, phương pháp lập hồ sơ, trách nhiệm lập hồ sơ.
Thứ tư, quản lý và sử dụng con dấu: Văn bản là phương tiện, là công cụ đồng thời là sản phẩm của hoạt động quản lý, được bảo đảm độ tin cậy, quyền lực của cơ quan ban hành bằng giá trị pháp lý. Con dấu thể hiện giá trị pháp lý của văn bản và giúp cho việc kiểm soát ban hành văn bản đúng vị trị, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tác giả - cơ quan ban hành. Các nguyên tắc và quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư như quy định các loại con dấu, thủ tục cấp và khắc dấu, e 10 4 quy định về cách đóng dấu, bảo quản và bàn giao con dấu… được tuân thủ và thực hiện tốt sẽ giúp nhà nước và các cơ quan sử dụng văn bản có hiệu quả và đúng pháp luật, hạn chế tối đa những vi phạm trong thực tế. Hiện nay, bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ trong hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung, trong công tác VTLT nói riêng đòi hỏi phải thực hiện quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu trong công tác văn thư.
Thực hiện các văn bản pháp luật và chủ trương xây dựng Chính phủ điện tử, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 01/2019/TT- NV ngày 24 tháng 01 năm 2019 quy định quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu điện tử trong công tác văn thư, các chức năng cơ bản của Hệ thống quản lý tài liệu điện tử trong quá trình xử lý công việc của các cơ quan, tổ chức. Đây là căn cứ pháp lý để thực hiện việc quản lý văn bản điện tử đến, quản lý văn bản điện tử đi, lập và nộp hồ sơ điện tử vào lưu trữ cơ quan. Các cơ quan, tổ chức cần xây dựng hệ thống quản lý tài liệu điện tử và sử dụng chữ ký số của cơ quan, tổ chức, chữ ký số của người có thẩm quyền đối với các văn bản được tạo lập, luân chuyển và lưu trữ trong hệ thống. Như vậy, trong công tác văn thư, các cơ quan, tổ chức, theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cần tập trung thực hiện hai nhiệm vụ chính: M t là quản lý và tổ chức thực hiện các n i dung công tác văn thư: Bao gồm các biện pháp về quy định, quy chế; tổ chức, bộ máy, con người; phổ biến, hướng dẫn thực hiện các quy định, quy chế; tổng kết, kiểm tra, đánh giá.
Những biện pháp này nhằm tổ chức thống nhất và kiểm soát hiệu quả công tác văn thư theo phạm vi, trách nhiệm quản lý nhà nước, quản lý nội bộ tại mỗi cơ quan, tổ chức. Hai là tổ chức và thực hiện các nghiệp vụ;: Công tác văn thư gồm nhiều công việc, liên quan đến nhiều đối tượng trong cơ quan, tổ chức, bao gồm cả cán bộ, CCVC, người làm quản lý; cán bộ, CCVC, người làm chuyên môn. Để e 11 4 đảm bảo tính khoa học, thống nhất, mỗi nội dung lại có quy trình và phương pháp nghiệp vụ cụ thể, gắn với từng chức vụ, chức danh và trách nhiệm, đòi hỏi mỗi người tham gia đều phải tuân thủ và thực hiện đúng các nghiệp vụ công tác văn thư. b) Yêu cầu đối với công tác văn thư Trong hoạt động của mỗi cơ quan có nhiều loại thông tin từ nhiều nguồn và bằng các phương tiện khác nhau nhưng chiếm phần lớn là thông tin văn bản, những thông tin có giá trị pháp lý và chứng cứ.
Vì vậy, quá trình thực hiện các nội dung công tác văn thư ở các cơ quan, tổ chức cần đảm bảo những yêu cầu sau: - Yêu cầu nhanh chóng, kịp thời: Quá trình giải quyết công việc của cơ quan phụ thuộc nhiều vào việc tiếp nhận và xử lý thông tin, trong đó có thông tin văn bản thông qua hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức quản lý, giải quyết văn bản. Do đó, xây dựng, phát hành, tiếp nhận, chuyển giao giải quyết văn bản nhanh chóng, kịp thời, đúng thời điểm sẽ giúp mọi công việc của cơ quan được nhanh chóng; nếu ngược lại sẽ làm giảm tiến độ công việc của cơ quan, đồng thời gây tốn kém tiền của, công sức và thời gian của cơ quan. Việc lập hồ sơ cũng cần nhanh chóng, kịp thời, đồng thời với quá trình giải quyết công việc của mỗi cá nhân, không để tài liệu tồn đọng, tích đống dẫn đến không quản lý và tra tìm được.