phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động logistics và hiệu quả hoạt động của dịch vụ logistics. Chƣơng 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động dịch vụ Logistics của công ty TNHH Tiếp vận Toàn cầu VN. Chƣơng 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ Logistics của công ty TNHH Tiếp vận Toàn cầu VN giai đoạn 2020 – 2025 4 CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ L LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ LOGISTICS 1.
Tổng quan về hoạt động logistics 1.Khái niệm về logistics Sau cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai sản xuất vật chất của xã hội đã đạt năng suất cao do áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, song muốn tối ƣu hoá quá trình sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của DN trên thị truờng chỉ có cách cải tiến và hoàn thiện hệ thống quản lý phân phối vật chất, có nhƣ vậy mới giảm đƣợc thấp nhất thiệt hại do tồn kho, ứ đọng nguyên vật liệu, thành phẩm trong quá trình sản xuất và lƣu thông. Hệ thống phân phối vật chất này còn gọi là “logistics”. Vậy logistics là gì? logistics đƣợc đƣa ra lần đầu tiên với tƣ cách là một thuật ngữ bởi nhà quân sự ngƣời Thuỵ Sĩ Baron Antonie Henry. Trong tác phẩm “Tổng kết lịch sử quân sự” (năm 1838), lần đầu tiên ông sử dụng thuật ngữ logistics với ý nghĩa là nghệ thuật điều chuyển quân đội, thực hiện các hoạt động thu thập, bảo quản và vận chuyển NVL, nhân sự và phƣơng tiện.
Theo hội đồng quản trị logistics Mỹ (LAC,1988): “Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lƣu chuyển và lƣu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thoả mãn những yêu cầu của khách hàng”[19, tr. Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ Logistics (CLM, 1991) “Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lƣu thông hiệu quả và lƣu giữ các loại hàng hoá, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng” 5 Theo tài liệu Logistics and Supply Chain Management (Ma Shou, Trƣờng Đại học hàng hải thế giới) thì: “Logistics là quá trình tối ƣu hóa về vị trí, lƣu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, ngƣời bán buôn, bán lẻ, đến tay ngƣời tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”[20, tr.5] Tóm lại, logistics là quá trình lên kế hoạch, áp dụng và kiểm soát các luồng chuyển dịch của hàng hóa hay thông tin liên quan tới nguyên nhiên liệu vật tư (đầu vào) và sản phẩm cuối cùng (đầu ra) từ điểm xuất phát tới điểm tiêu thụ. Khái niệm hoạt động dịch vụ logistics Luật Thƣơng Mại Việt Nam đã đƣa ra khái niệm “Dịch vụ logistics” nhƣ sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thƣơng mại, theo đó thƣơng nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hƣởng thù lao” (Điều 233 Luật Thƣơng mại số 36/2005/QH11 Việt Nam năm 2005 và Luật 03/VBHN-VPQH 2017) [16],[17],[18]. Cũng theo nhƣ định nghĩa đƣợc Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (CSCMP) đƣa ra vào năm 2015 thì: “Dịch vụ logistics là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lƣu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng”[22, tr.
Theo định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền và là một bộ phận của chuỗi cung ứng (Supply Chain), liên quan đến các khâu của chuỗi cung ứng từ nhập nguyên, nhiên vật liệu qua các khâu của quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đƣa vào các kênh lƣu thông, phân phối để đến tay ngƣời tiêu 6 dùng cuối cùng. Trong mỗi khâu đó, hoạt động logistics bao gồm cả quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao.1: Các thành phần và hoạt động cơ bản của Quản trị logistics (Nguồn: Lamber, Strategic logistics management, [21.1 cho thấy logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ việc nhập nguyên liệu đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Các nguồn tài nguyên đầu vào không chỉ bao gồm vốn, vật tƣ, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết và công nghệ. Các hoạt động này cũng đƣợc phối kết hợp trong một chiến lƣợc kinh doanh tổng thể của DN từ tầm tầm hoạch định đến thực thi, tổ chức và triển khai đồng bộ từ mua, dự trữ, tồn kho, bảo quản, vận chuyển đến thông tin, bao bì, đóng gói…Và chính nhờ vào sự kết hợp này mà các HĐKD đƣợc hỗ trợ một cách tối ƣu, nhịp nhàng và hiệu quả, tạo ra đƣợc 7 sự thoả mãn khách hàng ở mức độ cao nhất hay mang lại cho họ những giá trị gia tăng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Qua các khái niệm trên, ta thấy rằng tuy có sự khác nhau về từ ngữ và cách diễn đạt, nhƣng theo nhận thức chung thì: Dịch vụ logistics là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng. Mục đích là giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời (Just in time). Phân loại dịch vụ logistics Hiện nay, dịch vụ logistics đang có nhiều cách phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, có thể đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân hoặc đứng trên góc độ DN để phân loại dịch vụ này. Sau đây là những cách phân loại khả phổ biến hiện nay đối với dịch vụ logistics.
* Phân loại theo các hình thức hoạt động Logistics: Hình 1.2: Phân loại logistics theo các hình thức [14, Tr.13] - Logistics bên thứ nhất (1PL): là tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tƣ vào phƣơng tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân cồn để quản lý và vận hành hoạt động logistics. - Logistics bên thứ hai (2PL): ngƣời cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là ngƣời cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán…) để đáp ứng 8 nhu cầu của chủ hàng, chƣa tích hợp hoạt động logistics. - Logistics bên thứ ba (3PL hoặc TPL): là ngƣời thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng.
3PL gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ với việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. - Logistics bên thứ tƣ (4PL hoặc FPL): là sự tích hợp gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4PL là một khái niệm phát triển dựa trên nền tảng của 3PL nhằm tạo ra sự đáp ứng dịch vụ, hƣớng về khách hàng và linh hoạt hơn. - Logistics bên thứ năm (5PL): phát triển nhằm phục vụ cho Thƣơng mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các 3PL và 4PL, đứng ra quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng dựa trên nền tảng Thƣơng mại điện tử.
* Phân loại theo hướng vận động của dòng vật chất: - Logistics đầu vào (inbound logistics): là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn) một cách tối ƣu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất. Dòng này bao gồm toàn bộ quá trình di chuyển nguyên vật liệu, vật tƣ, sản phẩm của các nhà cung ứng khác nhau thông qua các phân đoạn khác nhau. Các DNSX cần phải kiểm soát dòng vật chất này không chỉ đảm bảo cung cấp đủ đầu vào hữu hình cho sản xuất mà còn đảm bảo vốn thấp nhất và chi phí thấp nhất để sản xuất sản phẩm và đảm bảo kịp thời nhu cầu của khách hàng. - Logistics đầu ra (outbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay ngƣời tiêu dùng một cách tối ƣu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho DN.
Dòng chảy của hàng hóa từ nhà máy thông qua các kênh phân phối (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến ngƣời tiêu dùng. - Logicstics ngƣợc (logistics thu hồi - reverse logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hƣởng đến môi trƣờng 9 phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng để tái chế hoặc xử lý. * Phân loại logistics theo lĩnh vực hoạt động: - Logistics trong lĩnh vực sản suất kinh doanh (business logistics): là một phần của chuỗi cung ứng lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát có hiệu quả, tiết kiệm chi phí dòng dịch chuyển, tồn trữ hàng hoá, các dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm bắt đầu đến điểm tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu cầu. - Logistics quân sự (military logistics): là thiết kế và hội nhập tất cả các khía cạnh hỗ trợ cho khả năng tác chiến của lực lƣợng quân sự và các trang thiết bị để đảm bảo sẵn sàng, tin cậy, hiệu quả cho các chiến dịch.