Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHAP LÝ VE TO CHỨC UNG DUNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC VĂN THƯ, LƯU TRỮ 1.Cơ sở lý luận về tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư, lưu trữ 1. Các khái niệm có liên quan đến đề tài 11. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin Dưới góc độ lý luận, theo quan điểm của PGS.TS Vuong Đình Quyền giải thích công nghệ thông tin như sau: “Công nghệ thông tin là thuật ngữ chỉ chung cho các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và quá trình xử lý thông tin.
Công nghệ thông tin cung cấp cho chúng ta các quan điểm và phương pháp, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại chủ yếu là các máy vi tính và phương tiện truyền thong nhằm tổ chức khai thác có hiệu quả các nguôn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, kinh tế, văn hóa của con người” [34, tr.370] Dưới góc độ pháp lý, theo khoản 1, Điều 4 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 của Quốc hội giải thích công nghệ thông tin như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền dua, thu thập, xu ly, lưu trữ và trao đổi thông tin số ”137] Công nghệ thông tin là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá. của con người. Ở Việt Nam, tại Nghị quyết số 49/ND-CP của Chính phủ kí ngày 04/08/1993, công nghệ thông tin “là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tô chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Mặc dù “công nghệ thông tin” là một thuật ngữ có tính chất thông dụng, nhưng dé hiểu thống nhất, luận văn hiểu: CNTT Ia hệ thống các tri thức, phương 14 pháp khoa học, các kỹ thuật công cụ và phương tiện các giải pháp công nghệ.
duoc su dụng dé thu thập, lưu trữ, xứ ly, san xuất, xuất bản phat hành, truyền tải, truy cập, phân phối thông tin, nhằm giúp con người có thể sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên thông tin cho sự phát triển của xã hội. Khác với công nghệ khác, CNTT phát triển có sức lan toả mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực, mọi nơi, tạo ra một sức sông moi. Nhờ sự phát triển của CNTT đã hình thành siêu xa lộ thông tin. Day là hệ thống mạng lưới thông tin tổng hợp hỗ trợ lẫn nhau có dung lượng lớn, tốc độ cao và đông đảo hộ tham gia với quy mô khu vực, quốc gia hoặc quốc tế, được truyền tải bằng sợi quang có kỹ thuật số, được xử lý bằng hệ thống máy tính và các thiết bị đầu cuối đa chức năng.
Việc xây dựng “siêu xa lộ thông tin” khiến con người tận dụng được tối đa tri thức và biến khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tuy vậy, về mặt nhận thức, “CNT7 không phải chỉ là máy tính, phan mém dịch vụ. CNTT là tổ hợp của tất cả các yếu tô này, lại còn được làm tốt hơn bằng tam nhìn về các công nghệ có thể giúp cho tổ chức dat tới các mục dich của nó”'. Sự hiện diện của CNTT trong các tô chức được minh hoạ băng hình dưới đây: TỎ CHỨC Liên kết chiến lược và nghiệp vụ Dự án Quy trình Hệ thông tin Tài nguyên nhân lực ———D Tài nguyên tài chính Ket câu nên CNTT Hình 1.
Các miền chịu tác động của CNTT trong tổ chức Như vậy có thể nói, trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức, CNTT là một phần nghiệp vụ cốt lõi và được giao cho một bộ phận đảm nhiệm. Trong nhiều cơ quan, tổ chức, CNTT được phản ánh bởi sự hiện diện của một đại diện trong ban quản lý cấp cao: Giám đốc CNTT (CIO). CIO chịu trách nhiệm cả về quản lý công nghệ và quản lý nghiệp vụ và là môi nôi giữa hai lĩnh vực này. Trong một sô tô ! Bộ Nội vụ, (2007), Tài liệu bôi dưỡng quản lý CNTT, Nxb Thông kê, Hà Nội, tr.19 15 chức khác, CNTT có thé chi đơn thuần là một chức năng hỗ trợ, người quan lý CNTT đóng vai trò như người quản lý chuyên ngành của một bộ phận có khuynh hướng công nghệ.
Do đó, UDCNTT hiện nay đã được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và nó đem lại hiệu quả rất cao. Việc ứng dụng CNTT trong công tác văn thư, lưu trữ là nhu cầu mang tính khách quan, hỗ trợ đắc lực cho các khâu nghiệp vụ của công tác văn thư, lưu trữ từ thủ công sang tự động hoá, góp phần giải quyết một cách nhanh nhất trong một số khâu như tiếp nhận, chuyên giao, lưu văn bản, hồ sơ. thể hiện được tính khoa học, tính hiện đại trong giải quyết công việc. Ứng dụng CNTT vào công tác văn thư và lưu trữ là một vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, vì đây là nhiệm vụ mang tính chính trị góp phần không nhỏ vào quá trình hoạt động của mỗi cơ quan, đơn vị.
Khái niệm công tac văn the Công tác văn thư là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là ở những cơ quan nhà nước. Bởi lẽ, các cơ quan (Đảng, Nhà nước, đoàn thể) nếu muốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình thì đều cần sử dụng đến các công văn, giấy tờ nhằm phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật dé phản ánh tình hình lên cấp trên, trao đối, liên hệ, phối hợp công tác, ghi lại những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong hoạt động hàng ngày. Hiện nay, có một số học giả nghiên cứu và giải thích khái niệm công tác văn thư có thê kê đến như: Theo quan điểm của PGS Vương Đình Quyên trong cuốn giáo trình Lý luận và phương pháp công tác văn thư có giải thích công tác văn thư như sau: “Công fác van thự là khái niệm dùng dé chỉ toàn bộ công việc liên quan đến soạn thảo, ban hành văn bản, tổ chức quản lý, giải quyết văn bản, lập hô sơ hiện hành nhằm đảm bảo thông tin văn bản cho hoạt động quản lý của các cơ quan, tổ chức” (34, tr.11, 12] Công tác văn thư là nhiệm vụ đảm bảo thông tin bằng văn bản phục vụ công tác quản lý của cơ quan, đơn vị. Theo quy định tại Điều 1, Nghi định số 30/2020 của Chính phủ ngày 05/3/2020 Công tác văn thư gồm: Soạn thảo, ký ban hành văn 16 bản; quản lý văn bản; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan; quản lý và sử dụng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư.
Khái niệm công tác lưu trữ Về mặt khái niệm, công tác lưu trữ được hiểu là quá trình hoạt động quản lý và hoạt động nghiệp vụ nhằm thu thập, bảo quản an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ. Với khái niệm công tác lưu trữ, chúng tôi sử dụng định nghĩa của các tác giả Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Hàm (1997) trong cuốn Văn bản và Lưu trữ học đại cương: “Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động của Nhà nước bao gốm tắt cả những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp chế liên quan tới việc tổ chức khoa học, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quan lý, công tác nghiên cứu khoa học lịch sử và các nhu cau chính đáng khác của các Cơ quan, tổ chức, cá nhân ” [35, tr.66] Theo Luật Luu trữ năm 2011 nội dung của công tác lưu trữ gồm: Thu thập, bổ sung tài liệu; Tô chức khoa học tài liệu; Tổ chức bảo quan và Tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thu, luu trữ Công nghệ thông tin hiện nay đã được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và nó đem lại hiệu quả rất cao. Vì vậy ứng dụng CNTT trong công tác văn thư và lưu trữ là một vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, vì đây là lĩnh vực mang tính thời đại góp một phần không nhỏ vào quá trình hoạt động của một cơ quan, đơn vỊ.
Trên cơ sở khái niệm UDCNTT tại Điều 4 Luật Công nghệ thông tin, trong luận văn này chúng tôi xin đưa ra định nghĩa UDCNTT trong công tác văn thư, lưu trữ như sau: Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư, lưu trữ là việc áp dụng và sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ, công cụ kỹ thuật hiện dai dé xây dựng các Hệ thống quản lý tài liệu điện tử với các chức năng chính là hỗ trợ việc tin học hóa vào công tac văn thu, lưu trữ trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp theo đúng quy định. 17 Việc ứng dụng CNTT trong công tác văn thư, lưu trữ sẽ giải quyết được vẫn đề quản lý, tra tìm, cung cấp thông tin một cách thuận tiện, nhanh chóng và độ chính xác cao. Việc lập các báo cáo tổng hợp theo từng lĩnh vực thực hiện thuận tiện, có thể tạo lập nhiều biểu mẫu khác nhau. Khái niệm tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư, lưu trữ Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư, lưu trữ là nhiệm vụ của các cơ quan, doanh nghiệp, nhằm thiết lập bộ máy, bố trí nhân sự, ban hành các quy định về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo cơ sở vật chất và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.
Tổ chức quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư, lưu trữ là trách nhiệm của các nhà quản trị văn phòng, nhằm đưa công tác này đi vào nề nếp, thống nhất và hiệu quả.