Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết chế văn hóa, xây dựng nông thôn mới nâng cao và khái quát hệ thống thiết chế văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Chương 2: Công tác quản lý thiết chế văn hóa trong xây dựng nông thôn mới nâng cao ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết chế văn hóa trong xây dựng nông thôn mới nâng cao trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa hiện nay. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT CHẾ VĂN HÓA, XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ KHÁI QUÁT HỆ THỐNG THIẾT CHẾ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA 1. Cơ sở lý luận về quản lý thiết chế văn hóa, xây dựng nông thôn mới nâng cao 1.
Một số khái niệm 1. Thiết chế Thiết chế là một khái niệm được sử dụng rộng rãi và hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Tại Mỹ, Bruce J.Cohen và Terri L. Orbuch cho rằng: “Thiết chế là một hệ thống các quy tắc, giá trị và cơ cấu tổ chức nhằm hướng tới một mục đích xác định” [16].
Trong khi đó, Robertsons cũng đưa ra quan điểm: thiết chế là một tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội. Ông cho rằng một xã hội muốn tồn tại và phát triển bình thường phải được hình thành trên những mô hình hành vi, những khuôn mẫu, khuôn phép chung để từ đó mỗi thành viên trong xã hội có thể soi vào đó mà hành động cho phù hợp [36]. Ở một số nước khác, thiết chế thường gắn với 5 lĩnh vực: chính trị, tôn giáo, giáo dục, gia đình và kinh tế. Hai nhà khoa học G.Tromsdorff quan niệm thể chế và thiết chế cùng một ý nghĩa như nhau: Thiết chế/thể chế điều chỉnh việc tái sinh (gia đình), truyền thụ năng lực, kỹ năng và kiến thức chuyên biệt (giáo dục), cung cấp thực phẩm và hàng hóa (kinh tế), giữ vững trật tự xã hội (chính trị) [27].
Quan điểm này, được nhóm tác giả của Viện Ngôn ngữ tiếp nhận và mở rộng trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (2019): “Thể chế/thiết chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo” [34, tr. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thức tiếp cận dưới góc độ quản lý, kế thừa các quan điểm trên đã đưa ra khái niệm: “Thiết chế là một tổ chức do con người lập ra có mối rằng buộc chặt chẽ ở bên trong giữa con người với công việc thông qua các quy tắc, quy định và điều kiện để thực hiện công việc theo ý muốn chủ quan của con người. Trong cuộc sống có các thiết chế: thiết chế kinh tế, thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội”. 9 Như vậy, ta có thể hiểu thiết chế ở mức độ vĩ mô, có thể gắn với thể chế, hay việc thiết lập hệ thống quy chế của xã hội.
Thiết chế là một tổ chức xã hội đáp ứng nhu cầu thường xuyên của con người tồn tại khá bền vững trong đời sống xã hội. Thiết chế văn hóa Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa TCVH là “chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa [30].” Định nghĩa này thường được sử dụng trong lĩnh vực văn hóa, nhưng chỉ mang tính liệt kê, mô tả là chủ yếu “TCVH là nơi diễn ra, chuyển tải các hoạt động văn hóa. Thiết chế văn hóa hữu hình và vô hình - cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức bộ máy, cơ chế chính sách bảo đảm cho các hoạt động văn hóa” [30, tr. Với cách hiểu như vậy, về mặt lý luận TCVH là một chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh ph … “TCVH là hệ thống những giá trị chuẩn mực và các vai trò xã hội của văn hóa được thiết lập, tạo thành các hệ thống công cụ, kỹ thuật, quan điểm chi phối các hoạt động VHXH nhằm thỏa mãn cao nhất nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của cộng đồng” [43, tr.
Từ các quan điểm, định nghĩa trên cho thấy: thiết chế văn hóa là cơ sở vật chất, cách thức tổ chức và vận hành, giá trị văn hóa tinh thần đảm bảo đời sống văn hóa cộng đồng. Hiện nay, hệ thống thiết chế văn hóa được hiểu là các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực văn hóa (cơ sở vật chất và bộ máy quản lý) trực thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch. Những đơn vị này có chức năng và nhiệm vụ tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân. Đồng thời, thiết chế văn hóa còn thực hiện nhiệm vụ ch nh trị, tuyên truyền vận động chủ trương, ch nh sách của Đảng và Nhà nước đến người dân.
Hệ thống thiết chế hình thành sau năm 1945, gồm: Bảo tàng, nhà văn hóa, thư viện, công viên văn hóa, điểm bưu điện văn hóa xã, rạp hát, rạp chiếu phim, trung tâm thể dục thể thao… Như vậy, có thể hiểu, thiết chế văn hóa là một tổ chức văn hóa có kết cấu bên trong khá chặt chẽ, ra đời để tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ cộng đồng. 10 Để trở thành một TCVH cần có bốn yếu tố cơ bản: (1) Có trụ sở và các trang thiết bị chuyên dụng (gọi chung là cơ sở vật chất); (2) Có bộ máy quản lý điều hành; (3) Có thể chế để vận hành; (4) Phải có hoạt động thường xuyên và công chúng đến tham gia. Đặc trưng của thiết chế văn hóa mang theo những yếu tố chung của thiết chế xã hội. Đồng thời biểu hiện những yếu tố riêng do tính chất, quy luật của văn hóa.
Đó là sự tương đồng của khát vọng, nhu cầu, tiềm năng sáng tạo văn hóa của cộng đồng với hệ thống, chuẩn mực, định chế của thiết chế văn hóa tương ứng. Như vậy, hệ thống TCVH, cụ thể là TTVH-TT là địa điểm diễn ra ch nh để tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị - xã hội ở địa phương; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT quần chúng, là môi trường để nhân dân địa phương đóng góp ý kiến với cấp ủy, chính quyền địa phương. Các loại hình thiết chế văn hóa - Thiết chế bảo tàng - Thiết chế thư viện - Thiết chế trung tâm văn hóa - nhà văn hóa - Thiết chế trung tâm triển lãm - Thiết chế nhà hát - Rạp chiếu phim Thông qua các quan điểm đã trình bày trên, luận văn đưa ra quan điểm về TCVH như sau: là một tổ chức (có thể là cơ quan, đơn vị, hay tụ điểm) được lập ra để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của người dân trong một cộng đồng dân cư nhất định; tổ chức này cần hội đủ các yếu tố: cơ sở vật chất - trang thiết bị - kinh phí; bộ máy tổ chức - nhân sự và quy chế - nội dung hoạt động. Thiết chế văn hóa cơ sở Bên cạnh khái niệm thiết chế văn hóa, thiết chế văn hóa cơ sở là thường được nhắc đến trong các văn bản Nhà nước nhất là trong phong trào Xây dựng Nông thôn mới hiện nay.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “cơ sở là đơn vị cấp dưới cùng, là nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động” [71]. Từ khái niệm TCVH và khái niệm cơ sở có thể hiểu: TCVH cơ sở là tổ chức hoạt động nghiệp vụ văn hóa, bao gồm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động, tổ chức bộ máy cán bộ và các công tác để xây dựng đời sống văn hóa 11 cơ sở; đáp ứng nhu cầu của nhân dân về hưởng thụ, sáng tạo và bảo tồn bản sắc văn hóa của các dân tộc Việt Nam. TCVHCS do cơ quan văn hóa cơ sở quản lý và hướng dẫn theo sự phân công, phân cấp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Trên thực tế, đây là tổ chức chỉ các cơ quan, đơn vị cấp xã, phường, thôn, bản, ấp, … hoạt động văn hóa do nhà nước hoặc cộng đồng xã hội lập ra trong khuôn khổ pháp luật hoặc quy chế của ngành, đoàn thể nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở đơn vị cấp cơ sở.
TCVH cơ sở là một trong những yếu tố góp phần quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa địa phương và từ lâu đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, một chủ trương lớn của Đảng được xây dựng thành những chương trình phát triển TCVH cơ sở cho cộng đồng dân cư ở các cấp địa phương trong cả nước thời gian qua. Tại Quyết định số 2164/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 11/11/2013 về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013-2020, định hướng đến năm 2030, mạng lưới TCVHTTCS được chia thành 04 hệ thống, bao gồm: Hệ thống do ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) quản lý; hệ thống do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quản lý; hệ thống do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý; hệ thống do lực lượng vũ trang, các bộ, ngành khác quản lý cùng các TCVHTTCS do xã hội hóa xây dựng. Trong khuôn khổ và dung lượng của luận văn, tôi chỉ xin được đề cập đến hệ thống TCVHTTCS do ngành VHTTDL trực tiếp quản lý, bao gồm: Nhà văn hóa - khu thể thao thôn (gọi tắt là thôn); Trung tâm văn hóa - thể thao xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã); Trung tâm văn hóa - thể thao huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi tắt là cấp huyện); Trung tâm văn hóa tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt là cấp tỉnh). Đây là nơi đáp ứng nhu cầu sáng tạo, học tập, trao đổi, hưởng thụ, gìn giữ văn hóa, luyện tập thể dục thể thao của các tầng lớp nhân dân; giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, xã hội ở địa phương; là cơ sở vật chất, công cụ trực tiếp và đắc lực của cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị.
Quản lý Quản lý là một hoạt động có phạm vi rất rộng.