chương 1 (Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực); chương 2 (Kinh nghiệm quản lý nguồn nhân lực ở nước ngoài); chương 3 (Hiện trạng quản lý nguồn nhân lực ở nước ta); chương 4 (Mô hình, chính sách và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực). Có thể nói, lần đầu tiên có một chuyên luận đề cập vấn đề quản lý nguồn nhân lực trong quá trình đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng cũng giống như cuốn sách trên, cuốn sách này cũng không đề cập đến nguồn nhân lực của ngành Văn hóa Thông tin nói rộng và nguồn nhân lực tổ chức cán bộ ngành Văn hóa nói hẹp. Sau năm 2010, Chương trình khoa học cấp nhà nước KX03/11-15 được triển khai với tiêu đề: Nghiên cứu khoa học phát triển văn hóa, con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực do tác giả Mai Quỳnh Nam làm Chủ nhiệm chương trình.
Mục tiêu của Chương trình KX.03/11-15 là: - Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn về quan hệ giữa văn hóa và phát triển; Sự biến đổi văn hóa từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại; Quyền con người vì mục tiêu phát triển con người và văn hóa. Có 5 đề tài, đó là: Đề tài KX.04/11-15: Tác động của tiếp biến và hội nhập văn hóa đến phát triển ở Việt Nam hiện nay; Đề tài KX.05/11-15: Bảo đảm quyền văn hóa trong điều kiện phát huy đa dạng văn hóa ở Việt Nam hiện nay; luan an 14 Đề tài KX.06/11-15: Mối quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi về phương diện văn hóa trong quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam; Đề tài KX.08/11-15: Phát triển bền vững con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Đề tài KX.17/11-15: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tiếp cận thông tin ở nước ta hiện nay. - Định hướng xây dựng văn hóa quản lý, văn hóa lãnh đạo, các giá trị văn hóa trong các hoạt động xã hội của con người ở cộng đồng, trước sự phát triển xã hội và hội nhập quốc tế; Định hướng xây dựng đạo đức, lối sống, tác phong của con người trong các hoạt động xã hội cơ bản vì mục tiêu phát triển đất nước. Có 7 đề tài, đó là các đề tài: Đề tài KX.01/11-15: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng gia đình Việt Nam đến năm 2020”; Đề tài KX.02/11-15: Đổi mới thông tin đối ngoại trong thời kỳ hội nhập quốc tế ở Việt Nam”; Đề tài KX.03/11-15: Định hướng phát triển công nghiệp văn hóa dưới góc nhìn văn hóa và tác động của nó đến thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế; Đề tài KX.11/11-15: Phát huy giá trị của tôn giáo nhằm xây dựng và nâng cao đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay; Đề tài KX.12/11-15: An ninh văn hóa trong điều kiện hiện nay; Đề tài KX.13/11-15: Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay; Đề tài KX./11-15: Văn hóa truyền thông đại chúng ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và toàn cầu hóa.
- Đánh giá thực trạng con người, nguồn nhân lực theo ngành, trên cơ sở đó dự báo nhu cầu nguồn nhân lực cho từng ngành đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020. Có 5 đề tài, đó là: luan an 15 Đề tài KX.07/11-15: Phát huy nguồn nhân lực nữ trí thức trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế; Đề tài KX.09/11-15: Vai trò của vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Đề tài KX.10/11-15: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở nước ta hiện nay; Đề tài KX.14/11-15: Đảm bảo an ninh con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; Đề tài KX.19/11-15: Phát triển nguồn nhân lực vùng Nam Bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Cung cấp cơ sở khoa học cho xây dựng các chính sách nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực. Gồm 3 đề tài, đó là: Đề tài KX.15/11-15: Lối sống công nhân Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hóa; Đề tài KX.16/11-15: Dư luận xã hội về sự biến đổi xã hội trong công cuộc đổi mới; Đề tài KX.20/11-15: Phát triển con người vùng duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay.
Trong các đề tài cấp nhà nước thuộc chương trình này, có đề tài liên quan đến đề tài luận án của NCS. Đó là đề tài KX.10/11-15: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở nước ta hiện nay do tác giả Lưu Đức Hải làm chủ nhiệm. Đề tài đã đạt được 09 kết quả cũng là 09 điểm mới, bao gồm: (1) Đã thống nhất được khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; luan an 16 (2) Khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá trong đột phá về nhân lực của Đảng; (3) Đưa ra được bộ chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao; (4) Xây dựng được bộ dữ liệu thống kê về nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam; (5) Sử dụng bộ chỉ tiêu để đánh giá bức tranh nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam từ năm 2006 đến nay; (6) Bất cập trong chính sách phát triển nhân lực của Việt Nam và các nguyên nhân; (7) Đưa ra phương pháp dự báo nguồn nhân lực chất lượng cao linh hoạt gắn với mô hình tăng trưởng; (8) Sử dụng mô hình dự báo để dự báo nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đến năm 2035 theo các chu kỳ; (9) Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị. Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu về nguồn nhân lực nói chung, nên đề tài không có nội dung nghiên cứu về nguồn nhân lực của ngành Văn hóa Thể thao và Du lịch.
Năm 2009, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã cho thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam do tác giả Nguyễn Lộc làm chủ nhiệm đề tài [98]. Một tập thể các nhà khoa học gồm 2 PGS.TS, 7 TS, 2 Th.S thực hiện đề tài này. Với mục tiêu “Xác định hệ thống lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực cấp độ quốc gia; Xác định những định hướng về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thập kỷ tới”, rõ ràng chủ nhiệm đề tài cùng các thành viên đã làm một đề tài có ý nghĩa to lớn. Báo cáo tổng kết đề tài chia thành 3 phần: Phần một.
Mở đầu; Phần hai. Các kết quả nghiên cứu đạt được chia thành hai phần: Nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn; Phần ba: Những định hướng chiến luan an 17 lược về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thập kỷ tới. Tiếp cận từ ngành giáo dục, nên nghiên cứu lý luận và thực tiễn của các tác giả thực hiện đề tài này, thuần túy là vấn đề nguồn nhân lực của ngành giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực của ngành giáo dục. Vấn đề mà NCS quan tâm nghiên cứu hoàn toàn “nằm ngoài” đề tài của Viện Khoa học Giáo dục thực hiện.
Năm 2009, lần đầu tiên, trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho thực hiện viết giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật do tác giả Nguyễn Thị Lan Thanh chủ biên [138], cùng cộng sự là Phan Văn Tú và Nguyễn Thanh Xuân. Là một giáo trình dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng các trường văn hóa – nghệ thuật, cuốn sách có tính chất nhập môn cho sinh viên về quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật, nên các tác giả cấu trúc thành ba chương: Chương 1: Khái quát về quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật; Chương 2: Tuyển chọn và sử dụng nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật; Chương 3: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật. Đây là một giáo trình mỏng, chỉ có 162 trang khổ 16x24 cm, nên tri thức về nguồn nhân lực chỉ là tri thức phổ cập cho sinh viên của một trường đại học văn hóa. Dẫu sao, đây là một giáo trình mở đường cho việc đào tạo bộ môn quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật ở các trường đại học và cao đẳng văn hóa - nghệ thuật.
Vấn đề nguồn nhân lực tổ chức cán bộ chưa được các tác giả giáo trình này đề cập, tuy chương 2 của giáo trình đề cập việc tuyển chọn, sử dụng nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật. Nói đúng ra, ở chương này, các tác giả viết về tuyển chọn và sử dụng nhân lực, chứ không là nguồn nhân lực. luan an 18 Ở thành phố Hồ Chí Minh, Học viện cán bộ thành phố Hồ Chí Minh có tạp chí Phát triển nhân lực, những năm qua có công bố một số bài báo về nhân lực và nguồn nhân lực. Cũng quan tâm đến nguồn nhân lực, năm 2012, tác giả Đặng Hữu Toàn có bài viết “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - một đột phá chiến lược trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020” [155].
Tác giả đã dẫn sự đánh giá của Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển” [31], để khẳng định công việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược của Đảng ta trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Năm 2012, tác giả Lưu Trần Tiêu có bài báo khoa học “Mấy vấn đề về nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa” [154]. Năm 2014, tác giả Nguyễn Đức Chiện và Phạm Ngọc Tân có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay”. Các tác giả vẫn tiếp cận vấn đề nguồn nhân lực từ giáo dục học, nhưng kết luận, các tác giả có một suy nghĩ rất khoa học: Cần tiếp tục nghiên cứu tổng quan cả ở cấp độ lý luận và thực tiễn.
Ở cấp độ lý luận, nghiên cứu làm rõ hơn khái niệm, lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong nước và quốc tế trên cơ sở đó xây dựng hệ khái niệm, lý thuyết phù hợp với thực tiễn đất nước.