Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG CỦA CÔNG AN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý trật tự an toàn giao thông của Công an cấp huyện 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhóm khái niệm về trật tự an toàn giao thông * Giao thông và giao thông đường bộ Ngày nay, khi nói đến giao thông mọi người đều cho rằng, đó là việc việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia bằng phương tiện chuyên chở [54, tr.
Giao thông vận tải được hình thành trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Để tiến hành sản xuất, thì dù ở trình độ sản xuất thô sơ hay hiện đại đều cần phải có giao thông trên tất cả các loại hình. Do đó, con người phải tiến hành tổ chức giao thông an toàn, thuận tiện để nối liền giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa vùng này với vùng khác, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, đi lại của nhân dân, đảm bảo các mối liên hệ kinh tế, phục vụ sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động từ đó đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng vùng, miền và của địa phương. Giao thông được tổ chức ở khắp mọi nơi, với các làn đường, hệ thống chuyển làn, tín hiệu giao thông hoặc biển báo được đánh dấu.
Giao thông thường được phân theo các loại: xe cơ giới (như ô tô, xe máy), phương tiện khác (như xe đạp, xích lô) và người đi bộ. Mỗi loại hình giao thông khác nhau sẽ có những làn đường nhất định, các quy định riêng về hình thức, giới hạn tốc độ. Trong quản lý, giao thông được chia thành các loại hình: GTĐB, giao thông đường thủy, giao thông đường sắt, giao thông đường hàng không. Phạm vi luận văn chỉ nghiên cứu về GTĐB, vì vậy các luận giải sau sẽ chủ yếu gắn với GTĐB.
13 Giao thông đường bộ có vai trò, chức năng vận chuyển hành khách và hàng hóa, bảo đảm lưu thông và đi lại hàng ngày của con người từ địa điểm này đến một địa điểm khác thông qua các phương tiện giao thông; tạo sự liên kết, gắn kết bên trong và bên ngoài của các đơn vị hành chính lãnh thổ, phục vụ đắc lực cho đời sống KT-XH của đất nước và từng địa phương. GTĐB là một phần quan trọng nhất của hệ thống giao thông vận tải. Ở Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ không có định nghĩa về thuật ngữ này, tuy nhiên có thể hiểu: “Giao thông đường bộ là việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia của người và phương tiện chuyên chở trên đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà qua sông, suối nối đường bộ” [31, tr. * Trật tự an toàn giao thông Từ xưa đến nay, vấn đề TTATGT luôn chiếm một vị trí quan trọng đối với các nước phát triển và đang phát triển.
TTATGT được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng, nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất TNGT. Đảm bảo TTATGT là một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia và xem đó là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng và ổn định trật tự xã hội. TTATGT của mỗi quốc gia luôn là sản phẩm chung được kế thừa của nhiều hoạt động khác nhau trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh trật tự của quốc gia đó. Trật tự ATGT là một lĩnh vực quan trọng của trật tự, an toàn xã hội, có mối quan hệ nhân quả và không tách rời trật tự, an toàn xã hội, có tính xã hội sâu rộng, bảo đảm cho mỗi cá nhân, gia đình sự an toàn, yên ổn khi tham gia giao thông.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, TTATGT là một yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển KT-XH, đem lại hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà. 14 Chưa có sự thống nhất quan điểm về TTATGT, có thể kể đến như: “Trật tự, an toàn giao thông - trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo, nhờ đó bảo đảm cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất TNGT, gây thiệt hại về người và tài sản. Trật tự, an toàn giao thông là một mặt của trật tự, an toàn xã hội” [42, tr. Tác giả Trần Sơn Hà cho rằng: “TTATGT là sự bảo đảm cho mọi hoạt động giao thông được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thông suốt và mỹ quan môi trường; hạn chế thấp nhất các vi phạm Luật Giao thông đường bộ và các quy phạm pháp luật về TTATGT, kiềm chế TNGT, ngăn ngừa thiệt hại do TNGT gây ra” [28; tr 15].
Thể hiện mối quan hệ trong cơ chế đối với việc đảm bảo thực thi pháp luật, Từ điển Bách khoa Công an nhân dân quan niệm: “TTATGT chính là hệ thống các mối quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo để đảm bảo hoạt động giao thông thông suốt, hạn chế thấp nhất TNGT, gây thiệt hại về người và tài sản” [43, tr.30] Với mỗi quốc gia, dân tộc, trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước đều quan tâm đến việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, trong đó, đặc biệt chú trọng và tiến hành xây dựng và phát triển GTĐB trước tiên. Phê duyệt điều chỉnh Chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/02/2013 đã xác định rõ, giao thông vận tải là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng KT-XH, một trong ba khâu đột phá, cần ưu tiên đầu tư phát triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề cho phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. 15 Giao thông đường bộ có vị trí trọng yếu trong hệ thống giao thông của quốc gia, đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển KT-XH, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống nhân dân. Khi giao thông thông suốt và đảm bảo trật tự, an toàn thì việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an toàn và trật tự xã hội sẽ thuận lợi, các hoạt động giao lưu văn hóa, giáo dục, y tế, v.v… sẽ diễn ra sôi động hơn, hiệu quả hơn.
Bảo đảm TTATGT sẽ thực hiện được mục tiêu bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe cho người tham gia giao thông, bảo đảm an ninh con người. Xã hội càng phát triển, nhu cầu đi lại của người dân và lưu thông trong nền kinh tế càng lớn, đã và đang đặt ra những yêu cầu cụ thể, cấp thiết cho việc phát triển GTĐB và đảm bảo TTATGT. Từ những phân tích nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm về TTATGT như sau: Trật tự an toàn giao thông là trạng thái của một xã hội được điều chỉnh bằng hệ thống các luật, lệ, quy tắc buộc mọi đối tượng tham gia giao thông phải thực hiện và xử sự phù hợp với yêu cầu của lực lượng chức năng, bảo đảm an toàn cho người và tài sản khi tham gia giao thông, hệ thống giao thông được thông suốt, tiện lợi, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Nhóm khái niệm về quản lý * Khái niệm quản lý Trong đời sống xã hội, thuật ngữ “quản lý” được sử dụng tương đối phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Trong nghiên cứu, Mác cho rằng, “quản lý” chính là một chức năng đặc biệt và nó được sinh ra từ tính chất xã hội hóa của lao động. Quản lý chính là hoạt động gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, với sự liên kết con người với nhau để sống và làm việc. Ở đâu có sự hợp tác của nhiều người, ở đó xuất hiện nhu cầu quản lý gắn liền với quá trình phân công và phối hợp trong lao động của con người. Do đó, chức năng quản lý là chức năng của một “nhạc trưởng” thể hiện ở sự điều hòa những hoạt động cá nhân.
16 Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý được hiểu dưới hai khía cạnh: một là, tổ chức và điều khiển theo những yêu cầu nhất định; hai là, trông coi và giữ gìn” [42, tr. Quản lý cũng có thể được hiểu là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực có sẵn như: tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực. Trong giáo trình Khoa học quản lý do PGS,TS.
Nguyễn Vũ Tiến chủ biên, quản lý được hiểu như sau: “Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [51, tr. Xuất phát từ tính kế hoạch của chủ thể quản lý mà sự tác động xác định mục đích nhằm trật tự hóa một hệ thống bất kỳ nào đó. Do vậy, trước khi có tác động quản lý thì các yếu tố, các bộ phận của một hệ thống ở trạng thái tự nhiên, tự phát, chưa được sắp đặt theo trật tự mang tính thứ bậc. Nhưng, dưới tác động của chủ thể quản lý, các yếu tố, bộ phận được đặt vào một vòng trật tự theo ý chí của chủ thể quản lý.
Quản lý là một quá trình phức tạp, đa dạng và luôn luôn biến động trong môi trường. Các yếu tố “chủ thể quản lý”, “đối tượng quản lý”, “khách thể” và mục tiêu của quản lý luôn vận động và phát triển và vì thế cũng đặt ra những yêu cầu nhất định. Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức của con người. Hoạt động do chủ thể quản lý tiến hành chính là những tác động quản lý hay còn gọi là hoạt động quản lý.