CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung điều chỉnh của pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ 1. Khái niệm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ Giao thông nói chung và giao thông đường bộ nói riêng là một trong những nhu cầu tất yếu của con người trong cuộc sống, là thước đo văn minh của mỗi quốc gia.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ xưa đến nay đều gắn bó chặt chẽ với hoạt động giao thông mà trước hết là giao thông đường bộ. Dưới góc độ kinh tế, giao thông đường bộ được ví là huyết mạch kinh tế của quốc gia, là một trong những tiêu chí cơ bản phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như năng lực tổ chức quản lý và văn minh của một quốc gia. Vì vậy, đảm bảo TTATGT là chiến lược của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Theo từ điển tiếng Việt: Giao thông là việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phương tiện chuyên chở [24, Tr.
Luật Giao thông đường bộ năm 2008: Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ (Khoản 1, Điều 3). Trên cơ sở cách hiểu về các thuật ngữ “giao thông”; “đường bộ” như trên, có thể thấy giao thông đường bộ là việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia của người và phương tiện chuyên chở trên đường đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ. Trong khi đó TTATGTĐB là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ, nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông 9 Luan van đường bộ thông suốt. Đảm bảo TTATGTĐB góp phần vào sự phát triển kinh tế cũng như bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước.
Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì TTATGTĐB được hiểu là: Trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo, nhờ đó bảo đảm cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông, gây thiệt hại về người và tài sản. TTATGTĐB là một mặt của trật tự, an toàn xã hội [22, Tr. Xuất phát từ quan điểm chung về pháp luật là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, hay thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội có thể hiểu: Pháp luật về TTATGTĐB là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực TTATGTĐB nhằm đảm bảo hoạt động giao thông đường bộ được diễn ra thông suốt, trật tự và an toàn. Đặc điểm của pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ Thứ nhất, pháp luật TTATGTĐB điều chỉnh một lĩnh vực khá rộng lớn, phức tạp.
Bao gồm những lĩnh vực lớn như quy tắc giao thông đường bộ, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, phương tiện tham gia giao thông đường bộ, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, vận tải đường bộ… với nhiều chủ thể chịu tác động như các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, Nhân dân. Thứ hai, pháp luật về TTATGTĐB được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do nhiều chủ thể ban hành với hiệu lực pháp lý khác nhau. Ở cấp độ Hiến pháp, những quan điểm lớn về trật tự xã hội (trong đó có TTATGTĐB) là cơ sở, tiền đề để các văn bản luật, văn bản dưới luật cụ thể hóa, chi tiết hóa. Pháp luật về TTATGTĐB chủ yếu được quy định dưới hình 10 Luan van thức văn bản luật và dưới luật, trong đó các văn bản là nghị định, thông tư hiện nay chiếm một tỷ lệ rất lớn.
Thứ ba, pháp luật về TTATGTĐB thường xuyên phải được thay đổi, cập nhật và hoàn thiện. Điều này xuất phát từ nhiều lý do, trong đó có sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, số lượng phương tiện, kỹ thuật, tình hình tai nạn giao thông và định hướng phòng ngừa tại nan, bảo đảm TTATGTĐB ở từng thời kỳ. Nội dung của pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ Là một lĩnh vực của pháp luật trong quản lý nhà nước, pháp luật về TTATGTĐB như đã phân tích có đối tượng tác động và nội dung tác động rất rộng lớn, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Có thể kể ra một số nội dung cơ bản quy định về: Quy tắc giao thông đường bộ.
Đây là các quy định chung, bắt buộc các chủ thể tham gia hoặc có liên quan phải tuân thủ. Chẳng hạn quy định về người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ; xe ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô phải thắt dây an toàn hay quy tắc về việc chấp hành báo hiệu đường bộ: Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ; khi có người điều khiển giao thông thì người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông; tại nơi có biển báo hiệu cố định lại có báo hiệu tạm thời thì người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của báo hiệu tạm thời… Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Đây là các quy phạm về phân loại đường bộ; đặt tên, số hiệu đường bộ; tiêu chuẩn kỹ thuật đường bộ; quỹ đất dành cho kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; phạm vi đất dành cho đường bộ; bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn giao thông của công trình 11 Luan van đường bộ. Chẳng hạn, quy định về công trình báo hiệu đường bộ trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008 bao gồm: a) Đèn tín hiệu giao thông; b) Biển báo hiệu; c) Cọc tiêu, rào chắn hoặc tường bảo vệ; d) Vạch kẻ đường; đ) Cột cây số; e) Công trình báo hiệu khác (Khoản 1, Điều 45).
Phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Đây là nhóm các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, quản lý phương tiện tham gia giao thông đường bộ như: Điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới; cấp, thu hồi đăng ký và biển số xe cơ giới; bảo đảm quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ; điều kiện tham gia giao thông của xe thô sơ… Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Nhóm này bao gồm các quy phạm về: Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông; Giấy phép lái xe; tuổi, sức khỏe của người lái xe; đào tạo lái xe, sát hạch để cấp giấy phép lái xe… Vận tải đường bộ. Hoạt động vận tải đường bộ gồm hoạt động vận tải không kinh doanh và hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ.
Kinh doanh vận tải đường bộ là ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật. Kinh doanh vận tải đường bộ gồm kinh doanh vận tải hành khách, kinh doanh vận tải hàng hóa. Hoạt động vận tải đường bộ phải phù hợp với quy hoạch giao thông vận tải đường bộ và mạng lưới tuyến vận tải. Quản lý Nhà nước về giao thông đường bộ.
Đây là nhóm quy phạm điều chỉnh về nội dung quản lý nhà nước đối với trật tự giao thông đường bộ; 12 Luan van trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước đối với trật tự giao thông đường bộ. Khái niệm, đặc điểm và các loại hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ 1. Khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ Vi phạm pháp luật về TTATGTĐB là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến TTATGTĐB được pháp luật điều chỉnh bảo vệ, gồm tội phạm và vi phạm hành chính. Những hành vi là tội phạm được quy định tại Mục 1, Chương XXI Bộ luật Hình sự năm 2017 (các tội xâm phạm an toàn giao thông).
Vi phạm hành chính được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, theo Khoản 2, Điều 1, thì vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Thực chất của vi phạm hành chính là những hành vi vi phạm pháp luật, do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý, hay vô ý xâm phạm tới các quan hệ xã hội được các quy định về quản lý nhà nước điều chỉnh và bảo vệ, không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử lý vi phạm hành chính. Vi phạm hành chính về TTATGTĐB là một loại vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức thực hiện xâm phạm đến những quan hệ xã hội trong lĩnh vực giao thông đường bộ một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải xử lý vi phạm hành chính. Vi phạm pháp luật về TTATGTĐB được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quan trọng nhất là Luật Giao thông đường bộ năm 2008.
Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được ban hành đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để thiết lập trật tự kỷ cương về TTATGTĐB, góp phần 13 Luan van phát triển nền kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước. Việc triển khai thực hiện các quy định của Luật Giao thông đường bộ đã được Đảng, Chính phủ, các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp. thực hiện nghiêm túc và thu được kết quả tốt.