CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Khái quát về vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ Là một dạng cụ thể của vi phạm pháp luật, các hành vi vi phạm hành chính xảy ra nhiều trong đời sống xã hội, và nhận được xử quan tâm của các nhà luật học, cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Điều này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ, và cấp độ khác nhau. Trong khoa học pháp lý Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính.TS Nguyễn Cửu Việt thì VPHC là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính [58, tr 504].
TS Nguyễn Thị Thủy định nghĩa: “ Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi, do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm hại trật tự xã hội, trật tự nhà nước, sở hữu tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân mà không phải tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật [48, tr. Khái niệm VPHC cũng đã được đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam từ rất sớm; văn bản pháp luật đầu tiên thể hiện khái niệm này là Pháp lệnh xử phạt VPHC năm 1989, theo đó VPHC được hiểu là: “hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính [43]”. Sau 05 năm thi hành pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính chứa đựng nhiều bất cập cần phải được sửa đổi thay thế trong đó có định nghĩa về VPHC, song điều đáng tiếc Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 10 luan an 1995 không có điều khoản nào xác định về quan niệm của VPHC. Ngày 2/7/2002 Quốc hội ban hành Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính thay thế Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1995, tuy nhiên định nghĩa về VPHC mà pháp lệnh năm 2002 gián tiếp đưa ra so với định nghĩa về tội phạm hình sự theo BLHS còn rất chung chung, chưa nêu đầy đủ các dấu hiệu của VPHC.
Hiện nay, khái niệm này được thể hiện rõ tại Luật xử phạt VPHC 2012, cụ thể như sau: Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính [44]. Khi nói đến giao thông là nói đến “việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phương tiện chuyên chở [52, tr. Theo Luật GTĐB năm 2008 thì định nghĩa “Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ [45]”. Giao thông đường bộ (GTĐB) là đòi hỏi có tính tất yếu, cần thiết của quá trình phát triển đời sống xã hội ở mỗi một xã hội và mỗi quốc gia.
Sự phát triển của giao thông mang tính lịch sử và phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế, khoa học công nghệ nhất định. Theo tác giả GTĐB là việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phương tiện chuyên chở trên đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ. Khi xem xét GTĐB với tư cách là một hiện tượng xã hội. Dưới góc độ luật học hiện tượng GTĐB đang đặt ra những vấn đề pháp lý sau đây [27, tr.16] : Thứ nhất, GTĐB là một nhu cầu của con người trong xã hội.
Nhưng những cá thể con người, tổ chức người nhất định không thể tự lo để thỏa mãn nhu cầu của mình. Đặc biệt là với nhu cầu phát triển kinh tế- xă hội thì chỉ có Nhà nước mới có thể có khả năng tổ chức, có tiềm lực kinh tế và là chủ sở hữu đất đai mới có thể xây dựng kết cấu hạ tầng GTĐB. Tuy rằng ở mức độ nào đó Nhà nước phải huy động sức dân, nhưng trách nhiệm thuộc Nhà nước. Trách nhiệm này mang tính pháp lý được quy định trong chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
11 luan an Thứ hai, các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực GTĐB luôn là đối tượng điều chỉnh của pháp luật GTĐB. Nhà nước hướng dẫn và điều chỉnh các quan hệ này để các quan hệ này diễn ra có sự kiểm soát và “trong quy luật”. Thứ ba, các quan hệ trong hoạt động GTĐB được thực hiện bởi nhiều chủ thể với những mục đích kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh khác nhau. Cũng như các loại quan hệ xã hội khác, GTĐB cần được chế định hóa, quy phạm hóa và tiến tới pháp điển hóa do vậy đó là những lý do hết sức cơ bản để tạo ra sự ra đời của các văn bản pháp luật.
Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 ra đời đã tạo ra một “luật chơi” thống nhất, nhất quán, ổn định cho mọi tổ chức và cá nhân. Như vậy, có thể hiểu Luật GTĐB là tổng thể các quy định về quy tắc GTĐB; kết cấu hạ tầng GTĐB; phương tiện và người tham gia GTĐB; vận tải đường bộ và quản lý nhà nước về GTĐB. Pháp luật GTĐB là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành có nội dung điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực GTĐB [17, tr. Trong khoa học pháp lý, các định nghĩa về vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB được các luật gia quan tâm, điều này được thể hiện thông qua các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, thể hiện ở các sách chuyên khảo; giáo trình; luận văn; luận án cũng như các bài viết có liên quan.
Đinh Phan Quỳnh thì VPHC trong lĩnh vực GTĐB là hành vi trái pháp luật, có lỗi do cá nhân có năng lực TNHC hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự, ATGTĐB mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính [42, tr. Theo tác giả, có thể hiểu một cách tổng quát, vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là những hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực GTĐB một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm: Các hành vi vi phạm quy tắc GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về phương tiện tham gia GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện tham gia 12 luan an GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về vận tải đường bộ; các hành vi vi phạm khác về GTĐB. Khái niệm, đặc điểm về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 1. Khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ Xử phạt hành chính là một biện pháp cưỡng chế hành chính do chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với tổ chức cá nhân vi phạm hành chính; theo trình tự, thủ tục xử phạt hành chính do pháp luật hành chính Việt Nam quy định.
Xử phạt hành chính được xác định là biện pháp thông dụng và phổ biến trong xử phạt vi phạm hành chính. Xét ở góc độ nào đó thì xử phạt vi phạm hành chính là người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp chế tài hành chính trong văn bản pháp luật về xử phạt hành chính. Ở góc độ hẹp xử phạt hành chính cũng gần với trách nhiệm hành chính. Điều này cũng có nghĩa là trách nhiệm pháp lý hành chính được thực hiện hóa thông qua hoạt động xử phạt hành chính.
Dưới góc độ Luật thực định, Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 đưa ra định nghĩa pháp lý về xử phạt hành chính, theo đó, Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng h́ nh thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính [44]. Như vậy, có thể thấy hai nội dung của thuật ngữ “xử phạt vi phạm hành chính” là: 1) là hệ thống các quy định pháp luật hành chính điều chỉnh hoạt động áp dụng pháp luật của chủ thể có thẩm quyền xử phạt hành chính, 2) là hoạt động xử phạt hành chính, từ khâu phát hiện vi phạm, tìm kiếm quy định áp dụng, đến khâu áp dụng biện pháp xử phạt tương ứng với vi phạm. Trong khoa học pháp lý, các định nghĩa về xử phạt vi phạm hành chính được các luật gia quan tâm, điều này được thể hiện thông qua các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học: Xử phạt hành chính là biện pháp cưỡng chế 13 luan an nhà nước do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành, áp dụng các hình thức xử phạt hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo thủ tục xử phạt vi phạm hành chính do pháp luật Việt Nam quy định [48, tr.216] hoặc xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật, trong đó, người có thẩm quyền áp dụng chế tài pháp luật hành chính (hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả) đối với chủ thể vi phạm hành chính (cá nhân, tổ chức) theo thủ tục do luật hành chính quy định, kết quả là chủ thể thực hiện vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần so với trạng thái ban đầu của họ [20, tr.