phần Mở đầu, các phụ biểu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Nội dung luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế xuất nhập khẩu Chƣơng 2: Thực trạng của quá trình quản lý thuế xuất nhập khẩu tại tỉnh Attapeu. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý thuế XNK trên địa bàn tỉnh Attapeu. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Mục tiêu của nƣớc CHDCND Lào là xây dựng đất nƣớc trở thành một nƣớc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế, đã và đang tích cực tham gia vào nền kinh tế thế giới với sự nỗ lực trong tất cả các mặt.
Với chủ trƣơng phát triển kinh tế thị trƣơng định hƣớng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu; các thành phần kinh tế đang phát triển nhanh chóng và đa dạng, hoạt động theo pháp luật, cùng phát triển, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, thƣơng mại quốc tế đƣợc xem nhƣ là một trong những động lực của nền kinh tế. Việc đẩy mạnh thƣơng mại quốc tế, thu hút đầu tƣ sẽ giúp nƣớc Lào giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho ngƣời lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh tế, đƣa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ. Vì vậy, tạo thuận lợi cho DN trong hoạt động XNK là trực tiếp góp phần đảm bảo nguồn thu, đảm bảo cho đầu tƣ cũng giải quyết các vấn đề khó khăn về vốn nhằm tạo đà cho đất nƣớc phát triển.
Đứng trƣớc yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong hoạt động XNK, đồng thời nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa ngành Hải 5 quan, Tổng cục Hải quan đã bắt đầu triển khai thí điểm thủ tục Hải quan điện tử theo Quyết định 362/2005/QĐ-TTg ngày 19/10/2007 của Thủ tƣớng chính phủ từ năm 2007. Và đến cuối năm 2011, với việc ban hành Nghị định 87/2011/NĐ-CP ngày 23/12/2011 của Chính phủ và Thông tƣ 196/2011/TT- BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính, thủ tục Hải quan điện tử đã đƣợc triển khai chính thức tại tất cả các Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Thủ tục Hải quan điện tử đã góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực Hải quan, giảm thời gian thông quan hàng hóa, tạo môi trƣờng thông quan minh bạch hơn và đƣợc sự ủng hộ của cộng đồng DN XNK. Để có những chuyển đổi căn bản trong phƣơng thức quản lý của ngành, tạo nền tảng cho việc triển khai thủ tục Hải quan điện tử, đẩy mạnh tự động hóa Hải quan nhƣ trên thì ngành Hải quan đã áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động XNK hàng hóa thƣơng mại.
Việc ngành Hải quan chuyển sang áp dụng phƣơng thức quản lý mới cũng mang lại tính hai mặt đối với nhiệm vụ thu ngân sách. Bên cạnh những mặt đƣợc nhƣ đã tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, giảm thiểu thủ tục và mức độ kiểm tra, rút ngắn thời gian thông quan, đồng thời đảm bảo kiểm soát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục Hải quan đối với hàng hóa XNK góp phần tạo điều kiện trong việc thu ngân sách đƣợc thuận lợi hiệu quả; thì còn có không ít những khó khăn thách thức đƣợc đặt ra nhƣ tình trạng tuân thủ pháp luật Hải quan, pháp luật thuế của các DN, tổ chức, cá nhân trong hoạt động XNK nói chung còn yếu, có nhiều vi phạm, các DN ở Việt Nam chủ yếu là các DN vừa và nhỏ, hoạt động kinh doanh nhiều khi theo thời vụ và không chuyên nghiệp nên mức độ hiểu biết về pháp luật cũng nhƣ năng lực tuân thủ pháp luật còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, một số DN, tổ chức, cá nhân đã lợi dụng sự tạo điều kiện thuận lợi, sự thông thoáng trong quản lý của ngành Hải quan đã tìm mọi cách buôn lậu, gian lận thƣơng mại, trốn thuế. 6 Những điều này đã gây ảnh hƣởng không nhỏ đến nguồn thu ngân sách trong hoạt động XNK, gây thất thu ngân sách.
Vì vậy, làm thế nào để việc quản lý thuế XNK vừa đảm bảo thu đúng, thu đủ, và kịp thời số thu thuế XNK vào NSNN; vừa đáp ứng các yêu cầu cải cách, phát triển, hiện đại hóa ngành Hải quan; tạo ra sự cân bằng giữa tạo thuận lợi và quản lý chặt chẽ; nâng cao năng lực quản lý của ngành Hải quan theo định hƣớng phát triển bền vững là vấn đề cần giải quyết. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo các tài liệu cả trong và ngoài nƣớc nhƣ sau: - Luật Hải quan số 04/2011/QH8 ngày 20 tháng 12 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật Hải quan. - Luật Thuế XK, thuế NK số 38/2005/QH7 ngày 20 tháng 12 năm 2005. - Luật Quản lý thuế số 21/2011/QH8 ngày 20 tháng 12 năm 2011; sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế.
- Luận văn “Tăng cường công tác kiểm soát thuế XNK tại Cục Hải quan Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Hồ Thị Nguyệt, năm 2012. Luận văn đã thực hiện nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát thuế XNK, khảo sát thực trạng công tác kiểm soát thuế XNK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng làm tiền đề tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát thuế XNK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế về lĩnh vực thuế XNK, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tƣ, hoạt động XNK phát triển mạnh mẽ và đúng hƣớng, tạo sự công bằng, bình đẳng cho các đối tƣợng khi tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh, XNK hàng hoá. - Luận văn “Hoàn thiện quản lý thu thuế NK tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam” của tác giả Phan Lâm Huyền Trang, năm 2014. Luận văn nghiên cứu những nội dung cơ bản của quản lý thu thuế NK theo cách tiếp 7 cận quy trình quản lý thu thuế gồm quản lý khâu khai báo thuế; quản lý quá trình nộp thuế; quản lý quá trình thực hiện chính sách miễn, giảm, hoàn, truy thu thuế; kiểm tra sau thông quan, thanh tra về thuế NK; từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả trong quả lý thu thuế NK tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
- Luận văn “Hoàn thiện công tác kế toán thuế XNK tại Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng” của tác giả Ngô Thùy Trang, năm 2013. Luận văn đƣa ra những cơ sở lý luận về công tác kế toán thuế và thu khác của cơ quan Hải quan đối với hàng hóa XK, NK; Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu tình hình áp dụng thực tế công tác kế toán thuế XNK tại một đơn vị Hải quan điển hình là Cục Hải quan TP Đà Nẵng. Từ đó tác giả nhận định những ƣu điểm, hiệu quả cần tiếp tục phát huy; đồng thời cũng đƣa ra những tồn tại, hạn chế và đề xuất biện pháp khắc phục, hoàn thiện. Trên cơ sở lý luận chung về công tác quản lý thuế XNK cùng với các văn bản quy phạm pháp luật về thuế nói chung và thuế XNK nói riêng; đồng thời kết hợp với thực tiễn quản lý thuế XNK tại tỉnh Attapeu, tác giả đƣa ra kết quả nghiên cứu của bản thân.
Tác giả cam đoan đây là một đề tài mới, chƣa từng đƣợc thực hiện trƣớc đây. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XNK 1. Tổng quan về thuế a.
Khái niệm Từ trƣớc đến nay, trên các sách báo kinh tế của thế giới vẫn chƣa có khái niệm thống nhất về thuế, tùy vào góc độ nghiên cứu mà ngƣời ta có những quan niệm khác nhau về thuế, phù hợp với lĩnh vực mà họ nghiên cứu. Theo các nhà kinh điển thì thuế đƣợc quan niệm là: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá. Với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực Nhà nƣớc. Còn theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của nƣớc Mỹ đã đƣa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuế khoá: “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế” Sau này khái niệm về thuế ngày càng đƣợc bổ sung và hoàn thiện hơn.
Trong cuốn từ điển của hai tác giả ngƣời Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận đƣợc của các cá nhân hay DN (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”. Dƣới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, ngƣời ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nƣớc. 9 Dƣới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế đƣợc coi là khoản đóng góp bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nƣớc theo quy định của pháp luật. Dƣới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tƣ sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng KTXH của Nhà nƣớc.
Ở Lào, đến nay cũng chƣa có một khái niệm thống nhất về thuế nhƣ: Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp,. buộc phải nộp cho Nhà nƣớc theo mức quy định. Các nhà kinh tế đều cho rằng, để làm rõ đƣợc bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật đƣợc các khía cạnh sau đây: + Nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nƣớc với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp; đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc; + Việc nộp thuế đƣợc pháp luật quy định. + Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung.