Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1. Một số khái niệm a. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (Provincial Competitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp.
Đây là dự án hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Chỉ số PCI được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 cho 42 tỉnh, thành. Từ năm 2006 trở đi đến nay, tất cả các tỉnh thành của Việt Nam đều được đưa vào xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng thêm.1: Đơn vị thực hiện PCI Năm Số tỉnh đánh giá Cơ quan thực hiện, hỗ trợ VCCI và USAID, qua Dự án Sáng kiến cạnh tranh 2005 42 tỉnh, thành phố Việt Nam (VNCI) do Quỹ Châu Á (TAF) và công ty tư vấn DAI (Hoa Kỳ) quản lý. VCCI và USAID, qua Dự án Sáng kiến cạnh tranh 64 tỉnh, thành phố 2006-2008 Việt Nam (VNCI) do Quỹ Châu Á (TAF) và công (kể cả Hà Tây) ty tư vấn DAI (Hoa Kỳ) quản lý.
VCCI và USAID, qua Dự án Sáng kiến cạnh tranh 2009-2012 63 tỉnh, thành phố Việt Nam (VNCI) do Quỹ Châu Á (TAF) và công ty tư vấn DAI (Hoa Kỳ) quản lý. VCCI và USAID, trong đó VCCI trực tiếp quản lý 2013-nay 63 tỉnh, thành phố và thực hiện Dự án với sự hỗ trợ của USAID. Bộ chỉ số nâng cao năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành, địa phương DDCI DDCI (Department and District Competitiveness Index) là bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp Sở, ngành và Địa phương - được dùng để đánh giá các khía cạnh khác nhau về năng lực điều hành kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của các sở, ngành, địa phương. Đây là bộ chỉ số kép đánh giá hai khối cơ quan trong tỉnh và là một trong các hướng đi mới của bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI.
Bộ chỉ số DDCI là giải pháp hiệu quả thúc đẩy năng lực điều hành cấp Sở, ngành, Địa phương vì những nguyên nhân chính sau đây: Thứ nhất, bộ chỉ số DDCI là cơ sở giúp UBND tỉnh xây dựng động lực, hệ thống hành động và giám sát nhằm liên tục cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh và môi trường đầu tư kinh doanh. Thứ hai, việc xếp hạng trong nội bộ tỉnh tạo động lực cạnh tranh giữa các Địa phương, Sở, Ban, Ngành và là kênh thông tin, giám sát hữu hiệu giữa UBND tỉnh, cộng đồng doanh nghiệp với chất lượng dịch vụ công, tiến tới cải thiện chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh. Thứ ba, cung cấp các bằng chứng/cơ sở vững chắc thúc đẩy việc xây dựng kế hoạch và triển khai các chương trình mục tiêu và phát triển kinh tế vùng của Chính phủ với tỉnh. Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Một là, PCI thay đổi tư duy về điều hành: Nếu trước đây các địa phương vẫn cho rằng vị trí địa lý, sự phát triển về cơ sở hạ tầng…mới là quan trọng thì PCI đã khẳng định tăng cường chất lượng điều hành sẽ tạo ra động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp và thu hút đầu tư.
Hai là, PCI tạo công cụ giám sát hiệu quả: Qua PCI, tiếng nói của doanh nghiệp được đề cao. Mục tiêu quan trọng của chính quyền là phải hướng đến sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Đây là mục tiêu tối thượng của mọi cuộc cải cách. Và đây có lẽ cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên lượng hóa được các chỉ số về sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp với các cấp chính quyền.
7 Ba là, PCI là động lực cho sự thay đổi: Hiếm có công trình nào thúc đẩy sự thay đổi không chỉ thái độ mà còn là hoạt động cụ thể của chính quyền như PCI. Rất nhiều sáng kiến mới cải cách đã được các địa phương thực hiện từ PCI. Bốn là, PCI thúc đẩy hợp tác và chia sẻ: 12 năm qua, PCI đã giúp lan toả những kinh nghiệm tốt và bài học cải cách thành công tại các địa phương ở Việt Nam: Sáng kiến xây dựng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp huyện và/hoặc cấp sở ngành (DCI) đo lường hiệu quả công tác của các huyện thành phố thị xã và sở ngành đã lan rộng từ Kiên Giang, Lào Cai tới Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Bắc Giang, Thái Nguyên và nhiều tỉnh thành phố khác. Ngoài ra, sáng kiến cải cách PCI “made-in-Vietnam” này cũng đã được xuất khẩu và bước đầu triển khai tốt ở 13 nước trên thế giới trong đó có cả những nền kinh tế đang cải cách mạnh mẽ như Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Sri-lanka, Bangladesh, Salvador, Kosovo, Myanmar, Lào.
và danh sách này đang dài thêm. Quy trình xây dựng bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Để xây dựng chỉ số PCI cần tiến hành theo ba bước chính đó là: Thu thập số liệu, xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần, xây dựng chỉ số tổng hợp PCI. Trong đó: * Bước 1: Thu thập số liệu xây dựng chỉ số PCI Quá trình thu thập số liệu để xây dựng chỉ số PCI gồm có: Thứ nhất, các chuyên gia nghiên cứu tiến hành điều tra các các doanh nghiệp trong nước đảm bảo mẫu đại diện đủ lớn, có thể đại diện cho tổng thể mẫu các doanh nghiệp trong cả nước để thu thập thông tin đánh giá của các doanh nghiệp. Thứ hai, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập các nguồn số liệu chính thống đã được công bố ở địa phương.
Mục tiêu là kết hợp cả số liệu khách quan (số liệu “cứng”) và số liệu chủ quan (số liệu “mềm”: thể hiện cảm nhận đánh giá của các doanh nghiệp được điều tra), để có thể cho những kết quả đáng tin cậy hơn so với chỉ sử dụng một trong hai loại số liệu trên. 8 Số liệu “mềm”: để có thể điều tra và thu thập số liệu “mềm”, các chuyên gia sử dụng phương pháp chọn mẫu nào? Cơ sở chọn mẫu ra sao? Công cụ thu thập và sử lý thế nào? Và phương pháp điều tra cần tiến hành như thế nào? Về phương pháp chọn mẫu được VCCI sử dụng là phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên. Phương pháp này cho phép lựa chọn điều tra tất cả các doanh nghiệp là như nhau, và việc phân tầng sẽ đảm bảo các doanh nghiệp được lựa chọn sẽ đáp ứng những tiêu chí chính đại diện cho tổng thể doanh nghiệp tư nhân. Trong điều tra PCI, doanh nghiệp được phân tầng theo ngành, nghề hoạt động kinh doanh; tuổi của doanh nghiệp (tính từ thời điểm thành lập); loại hình sở hữu doanh nghiệp.
Cơ sở chọn mẫu: Việc lựa chọn doanh nghiệp dựa trên danh sách của các doanh nghiệp đang nộp thuế ở mỗi địa phương từ Tổng cục thuế. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu chọn mẫu doanh nghiệp điều tra theo 24 tiêu chí phân tổ dựa trênloại hình, ngành kinh tế và theo tuổi của doanh nghiệp tương ứng tỷ lệ của từng địa phương, tranh tình trạng mẫu điều tra tập trung ở những thành phố lớn. Các doanh nghiệp được chọn đảm bảo mang tính đại diện cao nhất cho mỗi tổ. Công cụ thu thập: Phiếu điều tra các năm cơ bản là giống nhau, phiếu gồm 60 câu hỏi về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đánh giá của doanh nghiệp về 12 khía cạnh khác nhau trong hoạt động quản lý và điều hành kinh tế của chính quyền địa phương.
Phương pháp điều tra: Cơ quan nghiên cứu gửi bộ câu hỏi điều tra qua bưu điện đến các doanh nghiệp. Sau khi nhận được trả lời của doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu sử dụng các trợ giúp kỹ thuật nhằm loại bỏ các sai số không đáng tin cậy. Số liệu “cứng’’: Các phương pháp được cơ quan nghiên cứu sử dụng thu thập số liệu như: Lấy ý kiến chuyên gia; sử dụng bộ câu hỏi so sánh; và số liệu thống kê. Lấy ý kiến chuyên gia: thu thập ý kiến của các chuyên gia về 9 chất lượng quản lý và điều hành đối với từng tỉnh để hiệu chính những sai lệch trong đánh giá của các doanh nghiệp trong tính toán chỉ số cuối cùng.
Sử dụng bộ câu hỏi so sánh: Với cách này, các nhà nghiên cứu cần bổ sung thêm một số câu hỏi chuẩn so sánh trong các phiếu điều tra để các doanh nghiệp đánh giá và xếp hạng 10 tỉnh theo môi trường chính sách tốt nhất và tồi nhất, sau đó xếp hạng tỉnh nơi doanh nghiệp đang hoạt động vào danh sách đó. Số liệu thống kê: Để tiến hành thu nhập số liệu từ các nguồn công bố chính thức và bên thứ ba như: niên giám thống kê của tổng cục thống kê, kết quả của các cuộc điều tra, ấn phẩm của ngân hàng thế giới, các công ty,… * Bước 2: Xử lý số liệu để xây dựng chỉ số thành phần Qua việc thu thập số liệu “cứng” và số liệu “mềm”, cơ quan nghiên cứu sẽ tiến hành xử lý số liệu nhằm loại bỏ các biến nhiễu, làm sạch số liệu để phục vụ cho công tác phân tích để đưa ra đánh giá các chỉ số cấu thành nên PCI. * Bước 3: Xây dựng chỉ số PCI Thứ nhất: chuẩn hóa điểm các chỉ tiêu của 63 tỉnh, thành theo thang điểm 10. Nghiên cứu PCI nhằm mục đích so sánh chất lượng điều hành kinh tế của mỗi địa phương với thực tiễn tốt nhất về điều hành kinh tế đang có ở Việt Nam, mà không phải so sánh với một chuẩn mực nào.
Do vậy, mỗi chỉ tiêu được chuẩn hóa theo thang điểm 10, tỉnh có thực tiễn tốt nhất sẽ tương ứng với điểm 10, tỉnh có thực tiễn kém nhất tương ứng với điểm 1. Các tỉnh còn lại có điểm nằm trong khoảng từ 1-10. Công thức tính: Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành tốt thì sử dụng công thức sau: Điểm của tỉnh = 9 * [(Điểm của tỉnh - Điểm nhỏ nhất của mẫu)/(Điểm lớn nhất của mẫu - Điểm nhỏ nhất của mẫu)] + 1. Nếu chỉ tiêu cao phản ảnh chất lượng điều hành không tốt thì lấy 11 trừ đi công thức trên.
Điểm của tỉnh = 11 - {9 * [(Điểm của tỉnh - Điểm nhỏ nhất của mẫu)/ (Điểm lớn nhất của mẫu - Điểm nhỏ nhất của mẫu)] + 1}. 10 Tiếp theo, tính điểm số của các chỉ số thành phần.